NHÀ XUẤT BẢN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2001
TOÀN TẬP
TÂM NHƯ TRÍ THỦ
— o0o —
TẬP I
PHẦN 6
KỆ, THƠ, CÂU ĐỐI

KỆ PHÚ PHÁP
PHÚ PHÁP DỰ HẢI TUỆ ĐẠI SƯ.
Hải tuệ nan tư nghì
Thừa đương nhơn tự tri
Không hoa do nhãn ế
Vô thị diệc vô phi.
(Thầy Hải Tuệ, Nha Trang)
—oo0oo—
PHÚ PHÁP DỰ THÍCH ĐỨC THIỆU.
Dĩ Đức Thiệu gia phong
Cổ kim như thị đồng
Pháp quang hương bất tận
Hải ấn thể hàm dung.
(Thầy Đức Thiệu, Đà Lạt)
—oo0oo—
PHÚ PHÁP DỰ THÍCH ĐỨC TÂM.
Đức vi trí giả Tâm
Hà tu hướng ngoại tầm
Hữu vô thường đoạn luận
Hải tạng bất duy tâm.
(Thầy Đức Tâm, Huế)
—oo0oo—
PHÚ PHÁP DỰ THÍCH ĐỨC PHƯƠNG.
Cố dĩ Đức lưu Phương
Ly không hữu đoạn thường
Tâm hương thù hải nguyện
Vĩnh kiếp bạn y vương.
—oo0oo—
TẶNG ĐỔNG MINH ĐẠI SƯ.
Nhất thừa thật tướng ấn
Pháp pháp tận viên dung
Từ bi vô quái ngại
Tứ cú bách phi không.
—oo0oo—
PHÚ PHÁP DỰ THÍCH ĐỨC CHƠN.
Ba trừng tâm nguyệt hiện
Nhãn ế loạn hoa sanh
Đức Chơn tâm thường tịnh
Hải tánh tự nhiên thanh.
—oo0oo—
PHÚ PHÁP DỰ THÍCH PHƯỚC ĐƯỜNG.
Chư pháp sanh bất sanh
Chư pháp diệt bất diệt
Phước Đường vô tận tạng
Hải đức biến trang nghiêm.
—oo0oo—
PHÚ PHÁP DỰ THÍCH PHƯỚC CHÂU.
Phước đức thắng minh châu
Bất lao ngoại hướng cầu
Hải đăng thường tịch chiếu
Bảo tạng bất thắng thâu.
—oo0oo—
TẶNG THẦY THÍCH PHƯỚC NHƠN.
Phước địa đãi phước nhơn
Vãng lai an cát
Hải tâm hoàn hải nguyện
Xuất nhập dung thông.
—oo0oo—
TẶNG HÒA THƯỢNG THÍCH THIỆN SIÊU.
Từ thọ xuất Kỳ viên diệp
Tương thừa thiên cổ mậu,
Đàm hoa khai giác uyển
Phương ức vạn niên xuân.
(Câu đối ở chùa Từ Đàm, Huế)
—oo0oo—
CUNG KỶ TỪ HIẾU TỔ ĐÌNH KHÁNH THÀNH CHI LỄ .
Mạc nhĩ Thiền tôn truy tư Tổ
Đức quang hỷ từ bi đại tai
Hùng lực Từ Hiếu gia danh
Xuân sơn tịnh vức bất ỷ bất thiên.
Duy tinh tình nhất thị pháp trường
Ngưng kỳ nghi bất hoặc lịch đại
Miên miên tiêu tâm dực dực
Vạn cổ chân phong yết kỳ hữu cực.
Phật lịch nhị thiên ngũ bách tứ niên
Canh tý Mạnh Đông
Ba La, Tra Am tọa chủ hiệu Trí Thủ
Tịnh môn pháp bái thượng.
(Câu đối ở chùa Từ Hiếu, đề tặng
Hòa Thượng Tọa chủ nhân lễ khánh thành chùa.)
—oo0oo—
ĐỀ TẶNG HÒA THƯỢNG CHÙA CHÂU LÂM
Mỹ hỷ đạo sư, cứ sư tử tòa, diễn đại pháp âm
Hoán tỉnh mê nhơn văn diệu kệ,
Thiện tai văn sĩ, trước tệ cấu y, hiện tiểu thừa tướng
Vãng hồi cùng tử phó gia trân.
—oo0oo—
ĐỀ TẶNG CHÙA BA LA, HUẾ
Bán thiên chung bích nhập Kỳ viên
Mãn địa hoa hương khai Phật quốc
(Câu đối)
Dĩ Đức Trì thân hảo tác nhân
Tam sinh thạch thượng thủ tinh thần
Hành thâm Bát nhã Ba la mật,
Mãn địa thiên hoa bất trước thân.
(Phật lịch nhị ngũ nhất ngũ, Tân hợi Thu)
—oo0oo—
CỐ ĐÔ THIÊN MỤ TỰ TRỤ TRÌ
ĐÔN HẬU THƯỢNG NHƠN HUỆ TỒN.
Đạo sinh thuyết pháp ngoan thạch điểm đầu
Thánh giả thôn châm thiên nhơn củng thủ.
Phật lịch nhị ngũ nhị niên, tuế thứ Đinh mùi niên Thu.
Thiểu nạp Thích Trí Thủ thư tặng.
(Câu đối đề tặng Hòa thượng Thích Đôn Hậu.)
THƠ VÀ CÂU ĐỐI
ĐIẾU SƯ HUYNH TRÍ GIẢI
Tam sanh thạch thượng ức tiền duyên,
Nhân, ngã, đồng tham Đại Phổ Hiền.
Quy khứ bất phường, vân tán tụ,
Cô tùng, hạc lãnh, nại hà thiên !
Ba sanh hòn đá nhớ tiền duyên,
Cùng học cùng tu hạnh Phổ Hiền.
Đi mất, ngại gì mây tán tụ !
Tùng côi hạc lạnh nói sao nên !
(trích trong Tập Tra Am và Sư Viên Thành)
DỊCH
Khe Tào nước chảy về Đông,
Bát bình nối dõi lâu không nhớ ngày.
Trăng thiền nào khác xưa nay,
Viên Thành ấn chứng đã dày công tu.
(Hòa thượng dịch, trích như trên.)
—oo0oo—
TỤNG KINH HOA NGHIÊM CẢM TÁC
Phần hương nhứt nguyện Pháp không vương
Đại hạnh đồng tham biến cát tường
Sát hải trần thân thi diệu lực.
Trầm kha chướng loại tận an khương.
Đốt nén tâm hương trước Phật đài
Phổ hiền hạnh cả nguyện nào sai
Hiện thân cát bụi vào muôn nẻo
Chữa bệnh trầm kha khắp mọi loài.
—oo0oo—
CẢM NIỆM ĐỨC THẾ TÔN THÀNH ĐẠO
Đêm sâu từ bỏ chốn hoàng cung
Cắt đứt dây thương bận mấy vòng
Chữ đạo nằm trên ngai phú quí
Thề đem muôn loại thoát lao lung.
Lao lung đau khổ chốn trần ai
Bể ái nguồn ân chìm nổi hoài
Động mối bi tâm nguyền tát cạn
Trải bao sương tuyết cũng không nài.
Không nài thể chất có và không
Khám phá cho ra manh mối lòng
Đạp vỡ hồng trần gương trí rạng
Đốt đèn chân lý dẫn quần mông.
Quần mông theo dõi ánh từ quang
Hổ biến rừng mê khỏi lạc đoàn
Mưa móc thấm nhuần cơn sống chết
Nhớ ơn Từ Phụ mãi lo toan.
Lo toan xin đốt nén tâm hương
Với nhánh quỳ hoa ngỏ cúng dường
Thành đạo bốn phương trời chấn động
Muôn linh mừng thấy đấng Y Vương.
Y Vương chứng tỏ khối lòng châu
Trăm kiếp nghìn đời nguyện cúi đầu
Sứ mạng làm tròn thân đệ tử
Chiếu đèn diệu huệ giữa đêm sâu.
( 1948 )
—oo0oo—
THÍCH CA THÀNH ĐẠO SAO LỤC
Mang mang trường dạ trung
Tam bảo vi minh đăng
Thao thao khổ hải nội
Tam bảo vi từ hàng.
Dịch:
Hoang mang giữa quãng đêm dài,
Này ngôi Tam Bảo là đài quang minh.
Ngập trời bể khổ lênh đênh,
Này ngôi Tam Bảo sanh linh thuyền từ.
(Kỷ niệm Phật đản 2505,
Đặc san Đời sống đạo P.H.V)
—oo0oo—
HƯỚNG VỀ
Mỗi lần xuân hết hè sang,
Hồ trong sen nở nhụy vàng phơi hương.
Đàn con Phật, khắp muôn phương,
Hướng lòng thành kính cúng dường Đản sanh.
Thâm tâm truy niệm ân lành,
Nghìn xưa Ưu bát một cành ngát hương.
Nhớ thuở ấy, lúc tan sương,
Nhạc trời rung cảm, bốn phương thái bình;
Muôn chim ca khúc bình minh,
Cha lành cứu khổ ứng sinh Diêm phù,
Tám muơi năm mãn công phu,
Sa la ẩn bóng, mạn thù thâu hương !
Đạo vô thượng đủ ngàn phương;
Aùnh vàng chói lọi, sáng đường lầm mê.
Phá trừ ma chướng nặng nề,
Sanh linh lạc lối trở về đường ngay.
Kiếp xưa âu cũng duyên may,
Mênh mông bể khổ được lây hương thừa;
Xót mình đức bạc tài sưa,
Aân sâu khó trả, nghiệp xưa còn nhiều
Trước đài hương tỏa phiêu diêu,
Chí thành đảnh lễ đấng Siêu Nhân Hoàn;
Con thề đem mảnh thân tàn,
Phụng thờ chánh pháp đạo vàng bền lâu.
Hư không tan rã mặc dầu,
Sắt gan ghi tạc, nguyện cầu chứng tri;
Hướng về muôn đức từ bi,
Đường lên giác đạo quyết đi tận cùng.
(Đặc san Mừng Phật đản P.H.V.1957)
—oo0oo—
CẢM TÁC XUÂN CANH TUẤT
Tuổi đà ‘dĩ thuận’ lẻ thêm hai
Hơn thiệt chi chi cũng hết nài
Nội hạc chưa ngừng sân Lão thọ
Ngàn mây còn vướng ngõ Hoàng Mai
Non xanh, pháp nhãn hoa Linh thứu
Nước biếc, thiền tâm bóng Thiện Tài
Cánh thiệp tin xuân hồn đất mẹ
Nén hương hằng nguyện trước liên đài.
—oo0oo—
VỊNH CÂY BỒ ĐỀ
Bồ đề đạo thọ gốc thiên nhiên
Phật tổ xưa kia đến tọa thiền
Dẹp sạch ma vương thành chánh quả
Bước lên thánh vị được chơn truyền
Ba ngàn thế giới hào quang tỏa
Muôn vạn sanh linh giải thoát phiền
Dầu dãi nắng sương càng vững chắc
Đâm chồi nảy lộc khắp tam thiên.
(Mậu Thân, 1968)
—oo0oo—
XUÂN QUÝ MÃO CẢM TÁC
Xuân này tính tuổi chẵn năm lăm
Kiểm điểm công phu ngấy lỗi lầm
Còn luyến cành hoa khi sáng sớm
Đan vương tơ nắng lúc chiều âm.
Liệng vành mỏi cánh thương thân bướm
Nhả kén si gan ngán ruột tằm
Đốt nén hương nguyền thề sám hối
Trước sau giữ trọn chữ Không Tâm
( 1963 )
—oo0oo—
TỰ THUẬT
Bốn mươi tuổi đạo, sáu mươi đời
Cái kiếp phù sinh quá nửa rồi
Cay đắng nếm dư đầu chót lưỡi
Khen chê nghe đủ giữa vành tai
Mây ngàn vạn nẻo tung đường hạc
Hương nguyện mười phương quyện gió trời
Tâm sự sắc không ai có biết ?
Kìa gương bát nhã vốn trong ngời.
( Mậu thân, 1968 )
—oo0oo—
CẢM ĐỀ NON BỘ BẢN ĐỒ VIỆT NAM
(tại Thiền thất P.H.V. Nha Trang)
Dấn thân mây hạc giang hồ
Chạnh lòng quê mẹ dư đồ Việt Nam.
Này thắng tích nọ danh lam,
Máu xương trang trải ai làm nên khung.
Đúc vun khí tiết hào hùng,
Hai vai gánh nặng Quang Trung Nguyễn Hoàng.
Trường Sơn một dãy hiên ngang,
Càng nhìn càng ngắm muôn vàn thân yêu.
Non sông gấm vóc mỹ miều,
Ngàn năm văn hiến nhiễu điều giá gương.
Dù cho Nam Bắc đôi đường;
Đốt lò hương nguyện bốn phương một nhà,
Sớm hôm hướng nẻo Phật đà,
‘Sắc, Không’ tâm sự đường xa nỗi gần.
Mong sao giữ vẹn mười phần
Thanh cao dáng núi, trong ngần vẻ sông.
Gấm vóc gương nước tinh thần,
Đạo vàng dân tộc chiếu hồng muôn xuân.
Con Hồng cháu Lạc văn hiến bốn ngàn năm
nối tiếp anh hào dòng bất khuất.
Cảnh Phật ngày Trời giang sơn muôn vạn thuở
đề cao dân tộc chí hiên ngang.
(Mùa Đông năm Quí sửu, 1973)
—oo0oo—
VIẾNG LẠI CHÙA HƯƠNG
Cỏ hoa còn nhớ ta chăng,
Bước du tăng đã bao lần tới đây ?
Tuyết sương nhuộm bạc râu mày
Non sông gấm vóc vẫn đầy sắc xưa.
Đây khe yến, nọ rừng mơ,
Này am cửa Võng, suối bờ Giải oan.
Hỏi thăm người cũ: bàng hoàng,
Anh linh đã nhập sen vàng phương Tây! …
Nam Thiên đệ nhất còn đây,
Chim ca cúng trái, cá quầy nghe kinh.
Hoa thiên sương ngọc long lanh,
Hương thiền ngào ngạt gió lành phân phân …
Trầm loang điểm tiếng chuông ngân,
Bước lên mỗi bước, tần ngần, nao nao …
Tình yêu đất mẹ dâng cao
Trong ngần bể rộng dạt dào suối khe
Ba ngàn thế giới nhắn nhe
A di đà Phật qui về, ai ơi !
Bức tranh thủy mạc ngàn đời,
Đào nguyên e cũng hỗ ngươi kém phần …
—oo0oo—
QUÌ TRƯỚC ĐIỆN
Đệ tử hôm nay quì trước điện
Chí tâm đảnh lễ đấng Từ tôn
Đã bao phen sanh tử dập dồn
Trôi lăn mãi trong vòng lục đạo
Thế tôn đã đinh ninh di giáo
Mà con còn đắm đuối mê say
Mắt ưa xem huyễn cảnh hằng ngày
Tai thích tiếng mật đường dua nịnh
Mũi quen ngửi mùi thơm bất tịnh
Lưỡi dệt thêu lắm chuyện cay co
Thân tham dùng gấm vóc sa sô
Ý mơ tưởng bao la vũ trụ
Bởi lục dục lòng tham không đủ
Lấp che dần trí huệ từ lâu
Hôm nay con giác ngộ hồi đầu
Tâm sám hối phơi bày tỏ rõ
Nguyện tội ác từ nay lìa bỏ
Chuyển sáu căn ra khỏi lầm mê
Trước đài sen thành kính huớng về
Tịnh tâm ý qui y Tam bảo
Phật giới cấm chuyên trì chu đáo
Dứt tận cùng gốc rễ vô minh
Chí phàm phu tự lực khó thành
Cầu Đại Giác từ bi gia hộ
Dù phải chịu muôn ngàn gian khổ
Con hết lòng vì đạo hy sinh
Nương từ quang tìm đến bảo thành
Đặng tự giác giác tha viên mãn.
—oo0oo—
TỤNG KINH PHÁP HOA CẢM TÁC
Một lòng kính lạy Phật đà
Ngàn đời con nguyện ở nhà Như lai
Con hằng bận áo Như lai
Con ngồi pháp tọa Như lai muôn đời
***
Trí lực năng nhân tiêu cổ sầu
Thân vân tâm nguyện nhất thời hưu
Nhược ly không hữu đoạn thường luận
Khổ hải cuồng ba bát hoạt châu.
Phật lịch nhị ngũ nhị tứ, Canh thân hạ
Quảng Hương Già Lam
Thiện Thệ Tử Thích Trí Thủ đề
(Đề tặng học tăng tên trí Lực, mùa an cư 2524 tại Quảng Hương Già Lam)
—oo0oo—
Thơ Nhác
(Thiện Mỹ số 48, trang 12 ngày 22-10-1965)
Nhân đọc bài Chiếc Mũi, nguyên tác Bgunosure Akutagan do thi sĩ Vũ Trụ dịch, đăng ở tuần báo Thiện Mỹ số 46 ra ngày 8 tháng 10 năm 1965. Sực nhớ một bài thơ Nhác của thầy tôi (Hòa thượng Viên Thành sáng lập chùa Tra am, Mật sơn ở Huế hiện giờ) đọc cho tôi nghe hồi còn nhỏ mới xuất gia hành đạo. Xin chép ra đây để cống hiến bạn đọc nghe cho vui. Mặc dù nó không còn hợp thời trang theo tôi nghĩ.
Thơ rằng:
Ai thăm ơn lắm dám thăm ai,
Ai mời xin lánh, dám mời ai.
Nhà dột lá che không đợi lợp
Phên xiêu gió đẩy không đợi cài
Phải chăng mặc thế hơi nào nghĩ
Hơn thiệt tình đời cũng chẳng nài
Dễ có công đâu ngồi quẹt mũi ( [1])
Nay còn chưa kể huống là mai.
—oo0oo—
BÀI THƠ BÈO
Do Trạng Giáp Hải họa
Nguyên tác của Bao Bá Ôn.
Hòa Thượng dịch sát nghĩa.
Vải gấm dày dày chẳng lọt kim
Lá liền với gộc kế nào thêm
Đã cùng mây trắng tranh làn nước
Lại thấy vừng hồng rực ánh tươi
Ngàn lớp sóng nhồi không rã nổi
Muôn cơn gió dập chẳng lay chìm
Ít nhiều rồng cá nương trong ấy
Lã Vọng ngồi câu hết chỗ tìm.
—oo0oo—
ĐỀ TỪ …
Hồn dân tộc, mái chùa tô nét đẹp
Tiếng pháp âm, dòng nước họa vần thiêng.
Bể ái sông mê sóng ngập đầu
Xoay vòng sống chết mãi không thôi
Ai mà trở gót xoay đầu lại
Trước mắt đài sen hiện sáng ngời.
Mái chùa che chở hồn dân tộc
Nếp sống muôn đời của tổ tông.
Ngàn năm văn hiến Việt Nam ta
Đinh Lý Trần Lê quả thật là
Để tiếng anh hùng ngời nét đẹp
Diệu phong đã vẹn trổ hồn hoa.
(Tham quan cố đô Hoa Lư tháng 9.1983)
—oo0oo—
PHẬT NÓI KỆ:
Thà cho tôi cây gậy
Hơn lũ con bất hiếu.
Với gậy: chặn bò dữ
Chặn được loài chó dữ
Chỗ tối dò an toàn
Chỗ sâu tìm chân đứng
Với sức mạnh chiếc gậy
Vấp ngã đứng dậy được.
NGƯỜI NGẮM HOA ĐÀO
Bác ngắm hoa đào lại nhớ mai.
Miền Nam buổi sống mộ danh người.
Chín hai tuổi chẵn xuân còn mãi,
Tám mốt năm tròn nước sáng soi.
Thống nhất chung lòng xây vững đạo
Tùy duyên một dạ ghé vai đời.
Mai vàng cực lạc trong trần thế
Tứ chúng đồng tâm trước Phật đài.
Xuân Tân Dậu cảm tác.
Cúng thí trai đàn, duyên gặp A nan khởi
Cứu khổ Quán Âm hiện làm Tiêu diện quỉ
—oo0oo—
Niệm Phật từ bi, sức bí mật công đức
Cứu vớt cô hồn đến hưởng cam lồ vị
—oo0oo—
A di đà Phật xưa có vô biên thệ
Xem xét đường mê biển khổ hằng trôi nổi
—oo0oo—
Tay ruỗi ân cần đưa chiếc thuyền từ vớt
Chở hết chúng sanh đồng đến Liên trì hội
—oo0oo—
Nay mở đàn chay cúng quảy cô hồn phiêu bạt,
Quá vãng ông bà, cùng oan gia trăm họ
Tám nạn ba đường cùng thảy đều sanh siêu thoát cả
Cậy Phật hào quang đến hưởng cam lồ vị.
—oo0oo—
GIỚI ĐÀN P.H.V. HẢI ĐỨC 1973
Hòa hiệp tế tam thừa vận xuất tâm trung đạo lực,
Thượng năng huân ngũ phận hiển dương tánh thượng pháp thân.
—oo0oo—
Hòa hợp thuyết tam thừa, vận hết tâm thành đạo lực,
Thượng năng dâng ngũ phận, bày tròn tánh đức pháp thân
—oo0oo—
Chúc Phật giáo chi hà xương quốc tộ miên trường
vĩnh lịch Nam sơn chi thọ,
Giới Thích tôn chi thùy phạm tòng lâm qui củ
giáo lưu Đông chấn chi đàn.
—oo0oo—
Chúc Phật giáo lâu dài, nước nhà hưng vượng,
thọ sanh Nam sơn muôn thuở,
Cầu Thích tôn gia hộ, đạo pháp vinh quang,
Phước đầy Đông hải khắp nơi.
—oo0oo—
ĐIẾU NGÀI QUY THIỆN
Tích niên pháp nhủ đồng chiêm,
thệ hải giả tằng minh thiết thạch
Kim nhựt đàm hoa tiên lạc,
thiền lâm thùy thị nại phong sương.
ĐIẾU THẾ HUYNH KIÊM PHÁP LỮ
HÒA THƯỢNG THÍCH DIỆU HOẰNG
Nguyện thế thế sanh sanh đồng vi từ bi quyến thuộc.
—oo0oo—
ĐIẾU NGÀI KIM TIÊN
Thầy đã chết rồi ư, man mác tình quê trăng ẩn hiện,
Tôi còn sống sót lại, nước non bể nguyện lệ đầy vơi.
“Pháp tịch diễn chơn thuyên sư hống nhất thanh hồ quần tan thiển
Sư tọa tuyên diệu nghĩa phạm dương nhất khúc ma ngoại hàng tâm.”
DỊCH NGHĨA
Giảng đường tuyên diệu pháp, sư tử rống thời, chồn cáo tán đởm
Liên tọa diễn chơn như, dương cầm trổi khúc, ma ngoại qui tâm.
Giới thọ hữu hà nan nan giả chung thân trì tịnh giới,
Đàn tràng phi dung dị dị tai đại lực hộ hành đàn.
Thọ giới không chi khó, khó vì trọn đời trì tịnh giới,
Đăng đàn đâu phải dễ, dễ thay đủ sức hộ hành đàn.
Chứng Chơn đế lý như Điều ngự thân lâm Xá vệ,
Minh Phật tâm tông tợ Tào khê kế thuật Hoàng Mai.
Chứng Chơn đế lý, như Thế Tôn thân lâm Xá vệ,
Rõ Phật tâm tông, tợ Tào Khê kế thuật Hoàng Mai.
Yết đế khâm sùng giới tử khải tam phương trượng pháp môn biện sự,
Ma ha quảng đại sa di bạch tứ đế tiền thọ cụ đăng đàn.
—oo0oo—
Bánh xe chuyển trong bảy sắc cầu vồng muôn thuở
Và muôn thuở tấu hợp Trường ca của Thiên nhiên
Kìa đất lục, nọ trời xanh
Nhởn nhơ muôn thú, núi tía rừng hồng
Mơn mởn cỏ hoa, trăng vàng sóng biếc
Hoa gởi hương nồng, mây gởi hồn chim
Ôi lồng lộng Càn khôn vén mở
Người đi về áo rải vàng mấy độ
Mang mang nhật nguyệt xoay vần
Chim én dệt thoi khung trời không dấu tích
Tâm không nào lưu ảnh cõi Hư Không …
Bước vân du gai góc dẫm chân hồng,
Nắng quái mưa ma chân Thầy vẫn bước
Biển khổ dong thuyền sóng cuồng nước ngược
Hướng Từ dung tay vững ra khơi …
Thọ cam lồ ngào ngạt tuyệt vời
Sinh nằm nôi pháp lắng bi ca
Hương đỉnh trúc phà hồng sinh nhịp thở ( [2])
Bảy chục lẻ năm xuân, tròn trăm xuân,
Nối tiếp ngàn xuân vạn cổ
Lóng lánh Kim Cương trường kinh nạm chữ
Nguyện hành dị độ, bấm huyền ngôn
Tấu hợp giữa Khung trần.
Mỗi mỗi tinh sương lễ vọng hồng ân,
Thâu hút đề hồ pháp nhủ,
Mãi mãi tâm Thầy pháp xuân đồng tử.
Mừng thọ ÔN ngày 19.9 năm Quí hợi.
—oo0oo—
TÔN ĐIỆT NGHIÊM THỨC
CẢM NIỆM ÔN
Tuổi đến bảy lăm thân ắt già.
Kinh thư tích điển vẫn chuyên tra.
Điều hòa thời khắc riêng tu tịnh.
Dẫn dắt chúng đồ hướng Phật Đà.
Âu Á trải thân cùng thế sự,
Cổ kim dung hóa cuộc ta bà.
Gần Ôn, sống được tâm tình đạo,
Khế hợp, dòng đời khởi sắc ra.
Cảm tác nhân duyên muốn họa vận với ông Tuệ Không, một nhân sĩ hoạt động cách mạng mới về gặp Ôn; đã đưa bài đề, nguyên văn:
Nghe tiếng già lam những tưởng già,
Gặp Ôn viện chủ có chi tra.
Khuyến tu ý đạo còn phong phú,
Tình cảm hơi thơ vẫn đậm đà.
Góp mặt Á Âu soi chánh pháp,
Bền chân Nam Bắc độ ta bà.
Với Ôn, bỗng thấy mình tươi tỉnh,
Mà cả thiền môn cũng trẻ ra.
Ôn đã họa vận, báo Giác Ngộ đăng cả hai bài với đề tài “Hòa thượng Thích Trí Thủ họa thơ”khoảng năm 1980, như sau:
Già lam, nơi hiệp chúng tăng già.
Tu niệm nào phân biệt trẻ tra.
Gặp bạn thơ vui câu Đổ Phủ
Noi đường giác rạng tánh Di đà.
Liêu sau vọng bái hình Sơ tổ
Sân trước cung chiêm tượng Phật bà.
Cửa đạo khai tâm thường rộng mở,
Khuyên đời chẳng nệ khách vô ra.
—oo0oo—
Báo Giác Ngộ có một lần đăng đề tài: “Hòa thượng Thích Trí Thủ ra câu đố ”kể chuyện trên một chuyến đi Phật sự, Hòa Thượng đã tươi cười bảo những người đồng hành trong xe, đố các vị nhé:
“Thắp hương cầu khấn ông bà
Cho con ăn hút rượu trà say sưa”là cái gì ?
Báo viết: Mọi người ngơ ngác trước sự vui đùa bất ngờ thì Hòa thượng cười bảo: “Cầu cho ăn hút rượu chè say sưa là cầu cho con hư, tức là cái cầu hư chúng ta vừa mới đi qua đó.”
1]Về đời nhà Đường, có một Đại Tòng lâm gồm hàng ngàn tăng chúng ở tu học, trong đó có một tăng sĩ chẳng biết tên tuổi là gì, thường người ta đặt cho Ngài cái tên Đại Tàng Hòa thượng (đã nhác mà tánh lại hay tàng). Suốt đời bận áo rách ăn cơm thừa của đại chúng, mũi chảy lò thò trông rất là bẩn thỉu, hằng ngày chỉ lẩn quẩn xung quanh nhà bếp. Lý Bì ở trọ trong Tòng lâm ấy để học, đêm khuya thanh vắng, nhiều khi gặp Đại Tàng giảng kinh cho quỉ thần nghe ở trước sân điện Phật, cho là lạ lùng, tự nghĩ: có lẽ một vị thánh tăng ẩn mình giữa đám sống say chết ngủ chăng? Một hôm Lý Bì lần mò xuống bếp thấy ngài đang nướng khoai kiếm được để ăn. Ông ta liền đảnh lễ xin gia hộ. Ngài liền bảo chờ ồn (vật huyên) rồi bẻ nửa củ khoai đang nướng vất cho Lý Bì bảo ăn đi và nói: ‘Cho ngươi hai chục năm thái bình tể tướng đó’. (Hứa thử nhị thập niên thái bình tể tướng). Sau quả Lý Bì đỗ tiến sĩ lần lược làm đến tể tướng. Ông tâu với vua biết việc lạ mà mình gặp lúc trước. Vua Đường liền hạ chỉ sai Lý Bì đến Tòng lâm thỉnh. Ngài cũng bằng lòng đi. Nhưng khi ra đến xa giá, Lý Bì thưa rằng: “Bạch Ngài, khi còn ở trong chùa thì sao cũng được. Nay đến bệ kiến Thiên tử, xin ngài thay áo sống và lau mũi cho sạch sẽ, chứ cứ để như thế e ‘phạm tất’ và thất lễ với đình thần. Ngài nghe xong thì lắc đầu bảo: “Thôi ông về đi , ta không rảnh công đâu vì người đời mà quẹt mũi.” (Ngô bất vị thế nhân nhi thức thế). Nói xong liền trở vào bếp, nhất định không đi. Lý Bì liền trở về không. Từ đó, trong Tòng lâm xôn xao bàn tán, mọi người xúm lại tìm hiểu và thi nhau kính lễ cúng dường, tôn Ngài lên Thượng tọa. Một hôm, không biết từ đâu vô số cọp hiện ra trong Tòng lâm, mọi người dớn dác sợ hãi, có kẻ đã thổ tả gần nguy. Ngài liền bảo đem cho ngài một cái chổi quét nhà. Miệng nạt, tay hoa cái chổi, nhảy lên lưng một con cọp đi mất. Không ai biết gì về tông tích của Ngài nữa.
[2]Câu này Tâm Tấn nghĩ về ngày sinh của Ôn nhằm vía đức Quán thế âm, như được nằm trong nôi pháp, thấm chất cam lồ, lắng nghe đại bi âm và hít thở hương thơm từ đỉnh Trúc …
— o0o —
Source:www.phatviet.net
Vi tính: Nguyên Trang, Nhị Tường – Trình bày: Nhị Tường
