Phẩm Tựa
(phần đan xen cả ba nền tảng: nguyên lý, hiện thực và hành trì).

Phẩm Tựa là nói theo tiếng Hán Việt, còn tiếng Việt chúng ta gọi là Phần Giới thiệu tổng quát [về Kinh Pháp hoa], là phần giới thiệu bao quát nội dung và định dạng của kinh, bao gồm (1) dữ kiện lịch sử, (2) bối cảnh quy luật tự nhiên, và (3) giá trị ứng dụng.

1. Mục 1 trình bày dữ kiện lịch sử (tức ở lớp tích môn) gồm đức Phật Thích-ca Mâu-ni, các vị A-la-hán, tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, nam nữ cư sĩ, v.v.

2. Mục 2 và 3 trình bày bối cảnh trong thế giới quy luật tự nhiên (tức ở lớp bản môn) với vô số các vị Bồ-tát cũng như mọi chúng sanh hiện hữu. 

3. Cuối mục 3, đức Phật lại đưa chúng ta về thế giới hiện thực với sự xuất hiện của Vua A-xà-thế, con bà Vi-đề-hi lịch sử.

4. Mục 4 phác họa chấm nhỏ đặc thù trong giáo pháp sắp được đức Phật thuyết giảng. Chấm nhỏ trong thế giới lịch sử phẳng phiêu, nhưng lại bao trùm cả nhân sinh vũ trụ trong thế giới đa tầng đa chiều đa nguyên, trong vũ trụ 3D, trong không gian, chấm nhỏ “Vô lượng nghĩa.”

Mục 5, đức Phật dẫn chúng ta vào thế giới đa tầng đa nguyên ấy bằng chính cây cầu nối với thế giới lịch sử phẳng phiêu qua hình tượng “sợi lông trắng” giữa hai chặng mày. Và thế giới đa nguyên vô ngôn ấy thật rõ ràng, thật minh bạch, không cần phải dùng ngôn ngữ để mô tả. Nó thật đến trần trụi, không thương hiệu.

5. Mục 6 và 7, kinh chỉ cho ta thấy trong thế giới đa tầng đa nguyên ấy chứa đựng thế giới lịch sử phẳng phiêu, và ngược lại, trong thế giới phẳng phiêu đã hàm chứa thế giới đa tầng đa nguyên vô ngôn ấy.

6. Mục 8 đến 18 là sự trùng tuyên nội dung của các mục trước đó.

7. Mục 19 đến 30 là sự đan xen đa tầng đa chiều của hai thế giới hữu ngôn và vô ngôn bất phân ly. Tưởng như ảo ảnh nhưng lại thực đến bất ngờ. Bởi vì nó hiện hữu ngay trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta.

9. Các mục còn lại của Phẩm Tựa là sự trùng tuyên nội dung các mục từ 19 đến 30 mà thôi.

Giải thích:

1. Ở mục số 1, từ “Tôi nghe như thế này …” đến hết “… Tỳ-kheo-ni Gia-du-đà-la cùng với quyến thuộc câu hội” là nói đến thực tế lịch sử, trong đó, (1) về địa điểm: Núi Kỳ-xà-quật (Núi Linh Thứu), thành Vương Xá (Rajgir ngày nay); (2) về con người, có đức Phật Thích-ca, các vị trưởng lão Tỳ-kheo A-la-hán, các vị A-la-hán khác (vị vô học), cũng như các vị chứng đắc từ sơ quả đến tam quả (vị hữu học), bên cạnh đó, còn có các vị trưởng lão Tỳ-kheo-ni và các vị Tỳ-kheo-ni khác. Các vị đều là những con người có thật trong lịch sử, xuất hiện tại Ấn Độ khoảng hơn 2500 năm trước. 

2. Mục số 2 và số 3, từ “Bậc đại Bồ-tát tám muôn người đều không thối chuyển …” đến “…, Như ý Ca-lâu-la vương, đều cùng bao nhiêu quyến thuộc câu hội” là đức Phật đang sử dụng ngôn ngữ tạo hình nghệ thuật trừu tượng để trình bày bản thể của quy luật tự nhiên. Ngài đưa chúng ta từ hiện thực sanh diệt vào bản thể quy luật tự nhiên không sanh không diệt. Mọi hoạt động trong bản thể quy luật tự nhiên vừa giống vừa không giống các hoạt động ở đời sống hiện thực. Nên chúng ta thấy kinh mô tả nào là Bồ-tát, thiên thần, v.v., nói chung đủ mọi tầng lớp chúng sanh hữu tình vừa thể hiện phẩm chất con người hiện thực vừa biểu thị đặc tính của chúng sanh trong sự vận hành của quy luật vũ trụ bất sinh bất diệt. 

3. Ở mục số 3, câu “Vua A-xà-thế, con bà Vi-đề-hi, cùng bao nhiêu trăm ngàn quyến thuộc câu hội” là đức Phật đưa chúng ta quay về hiện thực cuộc đời với nhân vật lịch sử là Vua A-xà-thế. 

4. Qua mục số 4, kinh bắt đầu sử dụng một vài chấm nhỏ phác họa thế giới vũ trụ bao la, đan xen đa tầng giữa hiện thực và chân lý. Những nét phác họa đan xen trong một vài chấm nhỏ là đức Phật đang thuyết giảng giáo pháp cho mọi thính chúng vừa có thực trong lịch sử vừa biểu thị “nhân vật đặc tính” trong thế giới vô ngôn. Điều này giống như Kinh Tăng chi (2, 35) nói: vô số chư thiên đang đứng cùng nhau trên đầu một cây kim khi đến thăm viếng Phật, nghe pháp. Rất khó để chúng ta tưởng tượng các vị ấy đứng như thế nào, nhưng trong bản thể quy luật tự nhiên, mọi thứ đều có thể. Giống như thế giới vũ trụ 3D, hay hình học không gian, chỉ một chấm nhỏ có thể chứa đựng vô số.

Vì vậy, để nhìn nhận về mọi sự kiện trong cuộc sống, chúng ta không chỉ dựa trên quy luật hiện sinh hữu ngôn (quy luật mặt phẳng) mà còn phải dựa trên bản thể quy luật tự nhiên vô ngôn (quy luật đa chiều), nếu không mọi hiểu biết của chúng ta đều sai lầm. Chúng ta đang nhìn thấy mặt đất phẳng, rất thực tế, ai cũng thấy như vậy cả. Nhưng trong quy luật tự nhiên, nó không hề phẳng, nó rất cong. Con người, động vật, cỏ cây, v.v. như đang đứng với chân chạm xuống đất, đầu hướng lên, nhưng trong quy luật tự nhiên, chúng ta như những hạt thóc được gắn xung quanh quả cầu hình tròn, chân bị lực hút trái đất kéo vào, đầu bị lực hút của không gian kéo ra, vừa vẹn, không quá nhiều, không quá ít, đủ để mọi thứ vận hành như chính chúng.

Mục số 4 cũng chỉ rõ đức Phật đang thuyết giảng giáo pháp gì, đó là giáo pháp “Vô lượng nghĩa” có câu chữ rõ ràng trong thế giới nhân sinh, nhưng chứa đựng ý nghĩa thâm sâu không thể diễn tả bằng ngôn ngữ trong bản thể quy luật tự nhiên vô ngôn. Vì trong bản thể quy luật tự nhiên vô ngôn, mọi tồn tại, trong đó có ngôn ngữ đều như thực, đều vừa vẹn, đều vận hành như chính nó, không thêm không bớt. 

Làm sao chúng ta có thể đi vào thế giới vô ngôn? Chúng ta cần có con đường. Con đường đó được xây dựng bằng những chất liệu ngôn ngữ, khi ngôn ngữ đủ đầy, chúng ta đạp lên từng nấc thang ngôn ngữ đó để bước vào thế giới vô ngôn, và bỏ lại đằng sau mọi thứ ngôn ngữ cao siêu. Trong thế giới vô ngôn, không có thứ giả hiệu mà chỉ có sự thật, một sự thật trần trụi, không màu mè, không thương hiệu, không cần diễn tả bằng ngôn ngữ, v.v., ngay cả đến cái tôi chí tôn cũng vắng bóng. Thế giới đó ở đâu trong chốn nhân gian này. Nó ở ngay trước mặt chúng ta. Nó ở trong hơi thở ra vào, trong mọi hành vi rất nhỏ, trong lúc trời nắng, trời mưa, v.v. Nó chính là cuộc đời hiện thực của chính mình. Khi mọi khát vọng được lắng đọng, thế giới vô ngôn hiện tiền.

5. Ngay khi bước chân vào mục số 5, chúng ta bắt gặp hình ảnh đức Phật vừa lịch sử trong thế giới hiện thực vừa thực hiện chức năng ở thế giới bản nguyên. Tướng lông trắng giữa chặng mày là một trong 32 tướng tốt của đức Phật Thích-ca lịch sử. Từ tướng lông trắng của thế giới lịch sử phẳng phiêu, kinh dẫn lối chúng ta vào vũ trụ đa tầng đa chiều đa nguyên của bản thể quy luật tự nhiên. Trong thế giới đa tầng đa chiều đa nguyên của bản thể quy luật tự nhiên ấy, mọi tồn tại đều không gây trở ngại lẫn nhau, không hoại diệt lẫn nhau, mà tương duyên tồn tại, rõ ràng minh bạch. Cho nên kinh nói mọi chúng sanh trong các cõi ở thế giới bản thể ấy đều thấy rất rõ lẫn nhau.

Vì vậy, để bước chân vào đạo lộ giải thoát vô ngôn, điều đầu tiên và thiết yếu cần phải làm cho mọi thứ rõ ràng minh bạch, suy nghĩ rõ ràng minh bạch, lời nói, hành vi rõ ràng minh bạch. Nhưng đời mỗi người có được bao nhiêu lần rõ ràng minh bạch; suy nghĩ đầy toan tính thiệt hơn; lời nói đầy ma mị, lươn lẹo; ánh mắt đầy dò xét, nghi ngờ; các mối quan hệ đầy mập mờ, giả tạo, v.v., thì làm sao chúng ta bước chân vào đạo lộ giải thoát. Điều này thật khó, nhưng không phải là không làm được. Hãy quán chiếu thật rõ ràng những thứ này là chúng ta đã bước vào lĩnh vức của bản thể quy luật tự nhiên, giải thoát vô ngôn.

6. Ở trong thế giới đa tầng đa chiều đa nguyên của vũ trụ tự nhiên ấy, đức Phật dắt chúng ta vào một thế giới phẳng phiêu với Bồ-tát Di Lặc, Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi, các tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, nam nữ cư sĩ, và vô số trời, rồng, v.v. Thế giới hiện thực và bản nguyên đan xen lẫn nhau. Trong thế giới hiện thực phẳng phiêu bao hàm thế giới đa tầng đa chiều, và ngược lại, trong thế giới đa tầng đa chiều hiện bày thế giới phẳng phiêu. Đây là ý nghĩa của mục số 6 và số 7 của Phẩm Tựa.

7. Từ mục 8 đến 18 là những vầng thơ kệ trùng tuyên nội dung của các mục trước.

8. Từ mục 19 đến 30, kinh tường thuật những gì xảy ra trong thế giới bản nguyên vô ngôn bằng ngôn ngữ và dữ kiện của thế giới hiện thực hữu ngôn. Một sự kết nối của hai thế giới bất phân ly với đầy đủ những gì thuộc quá khứ kéo đến hiện tại và tương lai. Quá khứ trong thế giới bản nguyên của vũ trụ nhân sinh cũng có những sự kiện giống như những gì đang xảy ra ở Núi Linh Thứu trong thế giới hiện thực. Bồ-tát Di Lặc, Văn-thù, v.v. cũng đã có mặt ở nơi xa xôi đó, cũng nhớ lại sự kiện đó. Và sau những dấu hiệu đó thì đức Phật sẽ thuyết giảng giáo pháp vi diệu có tên là Hoa Sen (Diệu pháp Liên Hoa). Đến đây, Phẩm Tựa (Phần Giới thiệu tổng quát) đã hoàn thành sứ mạng của mình, sứ mạng giới thiệu đến mọi người giáo pháp Hoa Sen.

9. Từ mục 31 cho đến hết Phẩm Tựu (hết mục 46) là bài kệ trùng tuyên nội dung của phần phía trước mà thôi.

Cuối cùng thì chúng ta học được gì trong Phẩm Tựa này?

1. Cái chúng ta thấy bằng mắt, nghe bằng tai, ngửi bằng mũi, v.v., ngay cả những gì chúng ta tư duy bằng ý chưa chắc đã đúng sự thật. Cho nên đừng vội phán xét. Bởi vì cái mình thích, mình cho rằng ai cũng thích, nhưng không hẳn như thế. Nhưng tất cả những cái thấy bằng mắt, nghe bằng tai, v.v. đó, nếu được quán chiếu rõ ràng minh bạch, thì sự thật lại nằm ở đấy, chứ chẳng ở nơi nào khác.

2. Mọi thứ mình tưởng là quan trọng, nhưng thật ra không quan trọng, còn những thứ mình nghĩ là không quan trọng, nhưng thực ra lại quan trọng; những thứ mình tưởng là lớn, nhưng rất nhỏ, còn những thứ mình tưởng là nhỏ, nhưng rất lớn, v.v. Cho nên hãy sống tử tế từ những việc nhỏ nhất. Đó mới là thứ quan trọng nhất và to lớn nhất.

3. Nếu mọi cánh cửa đều đóng lại với mình, đừng vội hoang mang, chúng ta sẽ mở chúng bằng cách gõ vào cánh cửa mà mình muốn mở. Không phải cánh cửa nào là dễ, cánh cửa nào là khó, mà là chúng ta hãy gõ cánh cửa như một nhạc sĩ tài ba đang trình bày bản nhạc thật tuyệt, cánh cửa sẽ tự mở.

4. Đời sống an nhiên tự tại, giải thoát vô ngôn đó tưởng ở đâu xa xôi, huyền bí mờ ảo, nhưng không ngờ là ngay cuộc sống đời thường khi mọi thứ được chúng ta quán chiếu chúng một cách rõ ràng minh bạch và đưa chúng ra ánh sáng.

5. Cuối cùng, hãy bước đi trên đôi chân của mình, hãy sống hết lòng, hãy cố gắng hết sức, còn kết quả ra sao không quan trọng. Và điều rất đặc biệt, đó là ứng dụng Kinh Pháp hoa trong cuộc sống, mình sẽ ăn rất ngon, ngủ rất thoải mái. Cảnh giới của chư thiên hiện tiền.

Thượng toạ Viên Minh

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Bài viết cùng chuyên mục:

Tìm hiểu tư tưởng bình đẳng của Phật giáo qua tác phẩm Khoá Hư Lục
Luận, Phật học

DẪN NHẬP Trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, vào thời Trần, vua Trần Thái Tông đã tỏ ngộ lý thiền, thắp lên ngọn đuốc chân lý, soi đường cho người hữu duyên cùng tiến lên trên con đường giác ngộ, giải thoát. Trong số các trước tác của ngài, tác phẩm Khóa hư lục chứa đựng...

Duyên khởi và ý nghĩa của Kiết hạ An cư
Kiến thức, Luật, Phật học

Theo luật Tứ phần[1] duyên khởi của Ðức Phật qui định mùa an cư của chúng tỳ kheo xảy ra khi Ngài đang trú tại Xá Vệ, trong vườn của Ông Cấp Cô Ðộc. Nguyên do của việc chế định này là bởi vì sự than phiền của các người cư sĩ đối với nhóm 6...

Lịch Sử Kết Tập Kinh Luật Lần Thứ Năm Và Sáu
Luật, Phật học

LỊCH SỬ KẾT TẬP PHÁP TẠNG LẦN THỨ V Sau lần kết tập pháp tạng thứ tư đúng 2015 năm thì đến lần kết tập pháp tạng thứ 5. Theo sự ghi chép của Pàli giáo sử chương 6 và sử Miến Điện; thì vào năm 1871, quốc vương Miến Điện là Mẫn Đông (Mindon – tại vị từ 1853 – 1878) đứng ra triệu tập 2400 vị cao tăng, cử hành kết...

Lịch Sử Kết Tập Kinh Luật Lần Thứ Tư
Luật, Phật học

I– Thuyết thứ nhất Sau Phật Niết bàn khoảng 400 năm, tại nước Kiền Đà La (Gandhàra) có vua Ca Nị Sắc Ca (Kanishca) trị vì, đất nước phú cường, danh vang khắp nơi ,các nước xung quanh đều quy phục. Trong những lúc rảnh rỗi việc triều đình, nhà vua thường đọc kinh Phật. Mỗi ngày vua thỉnh một vị cao tăng vào cung thuyết pháp. Nhưng vua thấy quan...

Lịch Sử Kết Tập Kinh Luật Lần Thứ Ba
Luật, Phật học

Sau Phật Niết bàn 100 năm thì Đại hội kết tập Pháp Tạng lần thứ hai diễn ra, và sau lần kết tập lần thứ 2 đúng 118 năm lại diễn ra cuộc kết tập lần thứ 3. Như vậy lần kết tập này xảy ra sau Phật Niết bàn 218 năm, tức là 325 năm trước Tây lịch. Đại hội lần này do Hoàng đế A Dục (Asoka) đề xướng và bảo trợ . Vua...

Lịch Sử Kết Tập Kinh Luật Lần Thứ Hai
Luật, Phật học

Sau khi Phật Niết bàn độ 100 năm, các Tỳ kheo Bạt Kỳ ở Tỳ Xá Ly đề ra 10 điều phi pháp như sau: 1/ Tỳ kheo ăn muối gừng để dành qua đêm vẫn hợp pháp, 2/ Tỳ kheo ăn xong, nhận được thức ăn khác, dùng hai ngón tay cầm thức ăn để ăn vẫn hợp pháp, 3/ Tỳ kheo ăn xong, rời khỏi chỗ, rồi ngồi ăn lại vẫn hợp pháp, 4/ Tỳ kheo ăn xong, đi sang nơi...

Lịch Sử Kết Tập Kinh Luật Lần Thứ Nhất
Luật, Phật học

Không bao lâu sau khi Đức Thế Tôn nhập Niết bàn, tôn giả Đại Ca Diếp tập họp 500 vị đại Tỳ kheo tại giảng đường Trùng Các, bên dòng sông Di Hầu, thành Tỳ Xá Ly, để chuẩn bị kết tập kinh luật. Trong số 500 Tỳ kheo này, 499 vị đã đắc quả A La Hán, chỉ trừ tôn giả A Nan. Bấy giờ, tôn giả Đại Ca Diếp nói với các vị Tỳ kheo:...

Tu tập tịnh giới và pháp môn Tịnh Độ
Luận, Phật học

Thầy Thích Thái Hòa giảng tại trường Hạ chùa Vạn-đức, Thủ-đức, Phật lịch 2564  I. Im lặng 1- Pháp môn Tịnh độ được thiết lập trên nền tảng của Tịnh giới Chúng ta muốn công cụ Tịnh độ thành công nên phải đặt nền tảng của Tịnh giới. Bởi vì, thế giới Tịnh độ của Phật...

Căn Bản Giới Bồ Tát Của Phật Giáo Tây Tạng
Luật, Phật học

CĂN BẢN GIỚI BỒ TÁT CỦA PHẬT GIÁO TÂY TẠNG Nguyên tác: Root Bodhisattva Vows modified, March 2002, from Berzin, Alexander. Taking the Kalachakra Initiation Chuyển ngữ: Tuệ Uyển – Thursday, March 05, 2015 Giới Thiệu Giới là một hình thức vi tế không thấy trong sự tương tục tinh thần, là thứ hình thành thái độ. Một cách đặc biệt, nó là một sự kềm chế khỏi “một hành...

Phổ Hiền nguyện qua cái nhìn Phật tử sơ cơ
Phật học

Phật tử tu học theo truyền thống Bắc tông thường tụng niệm mười Phổ Hiền hạnh nguyện trong mỗi khoá lễ. Hầu như ai cũng thuộc lòng, tụng như cháo chảy nhưng nhiều khi chỉ là đọc tụng theo quán tính, theo trí nhớ chứ ít khi tìm hiểu thấu đáo, hoặc là thật sự...

Hạnh nguyện của Đức Bồ tát Quán Thế Âm
Luận, Phật học

Hiện tướng bản thể vũ trụ là một trò chơi vừa có tính thực và bất thực, hay vừa có tính hòa âm và bất hòa âm. Nếu người biết được trò chơi này, là người nắm được thực tại trên mười đầu ngón tay; thì trái lại, kẻ không nắm được thực tại trên...

Tánh Khởi Luận: Lý thuyết phân phối trật tự trong Hoa Nghiêm Tông
Luận, Phật học

(I) Sự thành tựu tối thượng mà những vị đang đi trên con đường độc nhất tiến tới giác ngộ, là khả năng thành tựu tất cả từ hư vô. Họ khởi đầu bằng nỗ lực nghe và thấu hiểu mọi lời được nói ra. Họ nỗ lực để thấy hiểu mọi chiều hướng tác...

Bài Kinh Dài Về Tánh Không
Kinh, Phật học

BÀI KINH DÀI VỀ TÁNH KHÔNG Kinh Mahasunnata-sutta-sutta (dựa theo các bản tiếng Pháp của Môhan Wijayaratna và tiếng Anh của Thanissaro Bikkhu) Bản dịch Việt: Hoang Phong Tôi từng được nghe như thế này: Có lần Đấng Thế Tôn ngụ tại vùng của bộ tộc Thích-ca (Sakka) tại thành Ca-tì-la-vệ (Kapilavatthu) trong khu vườn Ni-câu-đà (Nigrodha). Vào buổi...

Quy Sơn Cảnh Sách Văn
Luật, Phật học

溈山大圓禪師警策文 Quy Sơn Cảnh Sách Văn (Bài Văn Cảnh Sách Của Ngài Quy Sơn) (Đề này còn viết “Qui sơn Đại viên thiền sư cảnh sách”, nghĩa: Bài văn Cảnh sách của Đại viên thiền sư ở núi Quy sơn.) (1) 夫業繫受身。未免形累。禀父母之遺體。假衆緣而共成。雖乃四大扶持。常相違背。 Phù nghiệp hệ thọ thân, vị miễn hình lụy. Bẩm phụ mẫu chi di thể, giả chúng duyên nhi cọng thành. Tuy nãi tứ đại phù trì, thường tương vị...

Chánh niệm phát huy khả năng nhận thức, điều tiết cảm xúc và làm chủ hành vi
Luận, Phật học

Chánh niệm viết đầy đủ trong tiếng Pali là “sammā-sati”, nghĩa là sự tâm niệm đúng đắn. Nó có nguồn gốc xuất phát từ tuyền thống thiền quán phương Đông, cụ thể là từ Phật giáo Nguyên thủy (Hart, 1987). Có mặt hơn 25 thế kỷ, thế nhưng chánh niệm mới được tiếp cận và...

Bài kinh về sự Chú Tâm Tỉnh Giác
Kinh, Phật học

BÀI KINH VỀ SỰ CHÚ TÂM TỈNH GIÁC Satipatthana Sutta (Majjhima Nikaya 10) HOANG PHONG chuyển ngữ Lời giới thiệu của người dịch Satipatthana Sutta là một bản kinh quan trọng làm nền tảng cho một phép thiền định chủ yếu trong Phật giáo là Vipassana, nghĩa từ chương là “Sự quán thấy chuyên biệt” hay “sâu sắc”, kinh sách Hán ngữ gọi là “Minh Tuệ” hay...