Trước khi đọc vào từng phẩm của Kinh Pháp hoa, chúng ta cần định hình phương pháp tiếp nhận và thấu hiểu, nếu không chúng ta sẽ hiểu sai lệch về nội dung ý nghĩa của kinh khi đọc lướt trên mặt chữ. Bởi vì, ngôn ngữ của kinh là thể loại ngôn ngữ nghệ thuật chứa đựng quá nhiều biểu tượng được mô tả, và hình ảnh được phác họa đan xen đa tầng.

Đi vào Kinh Pháp hoa, giống như lạc lối vào viện bảo tàng tranh ảnh trừu tượng của nhiều trường phái khác nhau vừa như một tổng thể, vừa như những chi tiết đặc thù đan xen trong một chấm nhỏ của bức hình. Chấm nhỏ “kì dị” này làm bối rối những người không thấu hiểu nghệ thuật hội họa, nhưng lại là “chấm nhỏ” bao quát không thời gian của vũ trụ, nhân sinh bao la, từ quá khứ đến hiện tại và tương lai, từ hiện tượng đời thường đến bản thể chân lý như nhiên, tháo tung mọi giới hạn của tâm thức cá nhân, phá nát mọi định kiến thông thường, giúp người thưởng thức đi vào chốn chân không, đầy ắp mọi hình thức nhân sinh vũ trụ, nhưng không bao giờ va quẹt lẫn nhau, bởi trong đó, mọi thứ đang vận hành theo quy luật tự nhiên của nó.

Kinh gồm 28 phẩm (bản Phạn ngữ là 27 phẩm, không có Phẩm Đề-bà-đạt-đa). Kinh gồm ít nhất ba lớp ý nghĩa nằm đan xen trong các phẩm. Ba lớp đó là: nguyên lý, hiện tượng và hành trì, còn gọi là bản môn, tích môn và hạnh môn (trong ngôn ngữ triết học, chúng ta có thể gọi là: thể, tướng, dụng = bản chất, dấu hiệu nhận biết, và ứng dụng thực tế).

– Lớp nguyên lý hay chân lý: tầng lớp quy luật tự nhiên của vũ trụ nhân sinh bao la.

– Lớp hiện tượng: tầng lớp ý nghĩa của lịch sử, của sự sống trên trái đất này.

– Lớp ứng dụng: tầng lớp áp dụng những điều của lịch sử để thấu ngộ chân lý nhằm có được cuộc sống bình yên, giải thoát ngay trong hiện tại.

GIẢI THÍCH:

(1) Thứ nhất, nguyên lý hay còn gọi là chân lý, là quy luật tự nhiên của vũ trụ nhân sinh; chúng ta không thể dùng những khái niệm ngôn ngữ ước lệ để chuyển tải đầy đủ bản thể của nó, nên Kinh Pháp hoa dùng đến ngôn ngữ tạo hình nghệ thuật đặc thù để mô tả. Nếu nhìn trên mặt con chữ, loại hình ngôn ngữ này giống như đang kể chuyện huyền thoại, hoang đường, cảnh thần tiên, cảnh chư thiên, cảnh Bồ-tát, cảnh chư Phật, v.v. mênh mông bao la, biến hóa vi diệu, vượt ngoài sức tưởng tượng thông thường của con người, chúng ta không nên bám vào câu chữ như vậy và tin tưởng một cách mù quáng vào những biểu tượng ấy, thay vào đó, chúng ta kéo mình vào điểm “kì dị” của tâm thức để thấy rõ nguyên lý nhất như bao quát trùng trùng điệp điệp của thế giới quan, nhân sinh quan. Đây là lớp ý nghĩa sâu thẳm tận cùng của Kinh Pháp hoa, lớp bản môn.

(2) Tuy nhiên, Kinh Pháp hoa không chỉ dừng lại ở sự mô tả giống như câu chuyện thần thoại phi thực đó, mà kinh còn trùng tuyên những câu chuyện rất thực, rất đời thường, từ những nhân vật lịch sử của xứ Ấn Độ hơn 2500 năm trước, đức Phật Bổn Sư Thích-ca, các vị A-la-hán, như Tôn giả Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên, A-nan, v.v., đến những ví dụ vô cùng súc tích của kiếp người, mà những ai nghe qua đều có thể hiểu được ý nghĩa thực tế của nó, giúp con người ứng dụng vào cuộc sống để chuyển hóa khổ đau, đưa đến giải thoát, an lạc. Đây là lớp thứ hai, lớp tích môn.

(3) Không dừng lại ở đó, khi đọc Kinh Pháp hoa, người đọc dần dần được dẫn dắt vào con đường, lối sống, phương tiện thực hành, tưởng chừng như xa xăm, phi thực, huyễn hoặc, v.v., nhưng lại rất đời thường, rất thực tế, cân đối được đời sống tinh thần và tìm cầu vật chất, cân đối được tâm lý và trí năng, giúp con người sống thấu hiểu và bình yên. Đây là lớp thứ ba, lớp hạnh môn, cách ứng dụng trong thực tiễn.

Phần định hướng cách đọc kinh hơi dài, nhưng đó là điều vô cùng thiết yếu để giúp người đọc kinh không đi sai lệch ý nghĩa của kinh. Qua từng phẩm, chúng ta sẽ rất ngắn gọn, chỉ trình bày ý nghĩa cốt tủy nhất mà thôi.

Mong rằng những ai đọc Kinh Pháp hoa đều có lợi ích thiết thực trong cuộc sống hiện tại của mình; mong rằng người đọc kinh sẽ thấu tỏ ý nghĩa, và ứng dụng nhằm chuyển hóa khổ đau thành an vui, giải thoát.

(Nội dung từng phẩm sẽ được đăng tải trong những bài đăng sau).

Thượng Toạ Viên Minh

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Bài viết cùng chuyên mục:

Tìm hiểu tư tưởng bình đẳng của Phật giáo qua tác phẩm Khoá Hư Lục
Luận, Phật học

DẪN NHẬP Trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, vào thời Trần, vua Trần Thái Tông đã tỏ ngộ lý thiền, thắp lên ngọn đuốc chân lý, soi đường cho người hữu duyên cùng tiến lên trên con đường giác ngộ, giải thoát. Trong số các trước tác của ngài, tác phẩm Khóa hư lục chứa đựng...

Duyên khởi và ý nghĩa của Kiết hạ An cư
Kiến thức, Luật, Phật học

Theo luật Tứ phần[1] duyên khởi của Ðức Phật qui định mùa an cư của chúng tỳ kheo xảy ra khi Ngài đang trú tại Xá Vệ, trong vườn của Ông Cấp Cô Ðộc. Nguyên do của việc chế định này là bởi vì sự than phiền của các người cư sĩ đối với nhóm 6...

Lịch Sử Kết Tập Kinh Luật Lần Thứ Năm Và Sáu
Luật, Phật học

LỊCH SỬ KẾT TẬP PHÁP TẠNG LẦN THỨ V Sau lần kết tập pháp tạng thứ tư đúng 2015 năm thì đến lần kết tập pháp tạng thứ 5. Theo sự ghi chép của Pàli giáo sử chương 6 và sử Miến Điện; thì vào năm 1871, quốc vương Miến Điện là Mẫn Đông (Mindon – tại vị từ 1853 – 1878) đứng ra triệu tập 2400 vị cao tăng, cử hành kết...

Lịch Sử Kết Tập Kinh Luật Lần Thứ Tư
Luật, Phật học

I– Thuyết thứ nhất Sau Phật Niết bàn khoảng 400 năm, tại nước Kiền Đà La (Gandhàra) có vua Ca Nị Sắc Ca (Kanishca) trị vì, đất nước phú cường, danh vang khắp nơi ,các nước xung quanh đều quy phục. Trong những lúc rảnh rỗi việc triều đình, nhà vua thường đọc kinh Phật. Mỗi ngày vua thỉnh một vị cao tăng vào cung thuyết pháp. Nhưng vua thấy quan...

Lịch Sử Kết Tập Kinh Luật Lần Thứ Ba
Luật, Phật học

Sau Phật Niết bàn 100 năm thì Đại hội kết tập Pháp Tạng lần thứ hai diễn ra, và sau lần kết tập lần thứ 2 đúng 118 năm lại diễn ra cuộc kết tập lần thứ 3. Như vậy lần kết tập này xảy ra sau Phật Niết bàn 218 năm, tức là 325 năm trước Tây lịch. Đại hội lần này do Hoàng đế A Dục (Asoka) đề xướng và bảo trợ . Vua...

Lịch Sử Kết Tập Kinh Luật Lần Thứ Hai
Luật, Phật học

Sau khi Phật Niết bàn độ 100 năm, các Tỳ kheo Bạt Kỳ ở Tỳ Xá Ly đề ra 10 điều phi pháp như sau: 1/ Tỳ kheo ăn muối gừng để dành qua đêm vẫn hợp pháp, 2/ Tỳ kheo ăn xong, nhận được thức ăn khác, dùng hai ngón tay cầm thức ăn để ăn vẫn hợp pháp, 3/ Tỳ kheo ăn xong, rời khỏi chỗ, rồi ngồi ăn lại vẫn hợp pháp, 4/ Tỳ kheo ăn xong, đi sang nơi...

Lịch Sử Kết Tập Kinh Luật Lần Thứ Nhất
Luật, Phật học

Không bao lâu sau khi Đức Thế Tôn nhập Niết bàn, tôn giả Đại Ca Diếp tập họp 500 vị đại Tỳ kheo tại giảng đường Trùng Các, bên dòng sông Di Hầu, thành Tỳ Xá Ly, để chuẩn bị kết tập kinh luật. Trong số 500 Tỳ kheo này, 499 vị đã đắc quả A La Hán, chỉ trừ tôn giả A Nan. Bấy giờ, tôn giả Đại Ca Diếp nói với các vị Tỳ kheo:...

Tu tập tịnh giới và pháp môn Tịnh Độ
Luận, Phật học

Thầy Thích Thái Hòa giảng tại trường Hạ chùa Vạn-đức, Thủ-đức, Phật lịch 2564  I. Im lặng 1- Pháp môn Tịnh độ được thiết lập trên nền tảng của Tịnh giới Chúng ta muốn công cụ Tịnh độ thành công nên phải đặt nền tảng của Tịnh giới. Bởi vì, thế giới Tịnh độ của Phật...

Căn Bản Giới Bồ Tát Của Phật Giáo Tây Tạng
Luật, Phật học

CĂN BẢN GIỚI BỒ TÁT CỦA PHẬT GIÁO TÂY TẠNG Nguyên tác: Root Bodhisattva Vows modified, March 2002, from Berzin, Alexander. Taking the Kalachakra Initiation Chuyển ngữ: Tuệ Uyển – Thursday, March 05, 2015 Giới Thiệu Giới là một hình thức vi tế không thấy trong sự tương tục tinh thần, là thứ hình thành thái độ. Một cách đặc biệt, nó là một sự kềm chế khỏi “một hành...

Phổ Hiền nguyện qua cái nhìn Phật tử sơ cơ
Phật học

Phật tử tu học theo truyền thống Bắc tông thường tụng niệm mười Phổ Hiền hạnh nguyện trong mỗi khoá lễ. Hầu như ai cũng thuộc lòng, tụng như cháo chảy nhưng nhiều khi chỉ là đọc tụng theo quán tính, theo trí nhớ chứ ít khi tìm hiểu thấu đáo, hoặc là thật sự...

Hạnh nguyện của Đức Bồ tát Quán Thế Âm
Luận, Phật học

Hiện tướng bản thể vũ trụ là một trò chơi vừa có tính thực và bất thực, hay vừa có tính hòa âm và bất hòa âm. Nếu người biết được trò chơi này, là người nắm được thực tại trên mười đầu ngón tay; thì trái lại, kẻ không nắm được thực tại trên...

Tánh Khởi Luận: Lý thuyết phân phối trật tự trong Hoa Nghiêm Tông
Luận, Phật học

(I) Sự thành tựu tối thượng mà những vị đang đi trên con đường độc nhất tiến tới giác ngộ, là khả năng thành tựu tất cả từ hư vô. Họ khởi đầu bằng nỗ lực nghe và thấu hiểu mọi lời được nói ra. Họ nỗ lực để thấy hiểu mọi chiều hướng tác...

Bài Kinh Dài Về Tánh Không
Kinh, Phật học

BÀI KINH DÀI VỀ TÁNH KHÔNG Kinh Mahasunnata-sutta-sutta (dựa theo các bản tiếng Pháp của Môhan Wijayaratna và tiếng Anh của Thanissaro Bikkhu) Bản dịch Việt: Hoang Phong Tôi từng được nghe như thế này: Có lần Đấng Thế Tôn ngụ tại vùng của bộ tộc Thích-ca (Sakka) tại thành Ca-tì-la-vệ (Kapilavatthu) trong khu vườn Ni-câu-đà (Nigrodha). Vào buổi...

Quy Sơn Cảnh Sách Văn
Luật, Phật học

溈山大圓禪師警策文 Quy Sơn Cảnh Sách Văn (Bài Văn Cảnh Sách Của Ngài Quy Sơn) (Đề này còn viết “Qui sơn Đại viên thiền sư cảnh sách”, nghĩa: Bài văn Cảnh sách của Đại viên thiền sư ở núi Quy sơn.) (1) 夫業繫受身。未免形累。禀父母之遺體。假衆緣而共成。雖乃四大扶持。常相違背。 Phù nghiệp hệ thọ thân, vị miễn hình lụy. Bẩm phụ mẫu chi di thể, giả chúng duyên nhi cọng thành. Tuy nãi tứ đại phù trì, thường tương vị...

Chánh niệm phát huy khả năng nhận thức, điều tiết cảm xúc và làm chủ hành vi
Luận, Phật học

Chánh niệm viết đầy đủ trong tiếng Pali là “sammā-sati”, nghĩa là sự tâm niệm đúng đắn. Nó có nguồn gốc xuất phát từ tuyền thống thiền quán phương Đông, cụ thể là từ Phật giáo Nguyên thủy (Hart, 1987). Có mặt hơn 25 thế kỷ, thế nhưng chánh niệm mới được tiếp cận và...

Bài kinh về sự Chú Tâm Tỉnh Giác
Kinh, Phật học

BÀI KINH VỀ SỰ CHÚ TÂM TỈNH GIÁC Satipatthana Sutta (Majjhima Nikaya 10) HOANG PHONG chuyển ngữ Lời giới thiệu của người dịch Satipatthana Sutta là một bản kinh quan trọng làm nền tảng cho một phép thiền định chủ yếu trong Phật giáo là Vipassana, nghĩa từ chương là “Sự quán thấy chuyên biệt” hay “sâu sắc”, kinh sách Hán ngữ gọi là “Minh Tuệ” hay...