Người nào đem tâm tranh cãi, đem tâm lý luận đem tâm suy luận mà đến với đạo Phật, người ấy không bao giờ gặp được đạo Phật.Bởi vì tất cả những gì Đức Phật nói ra, đã trình bày cho mọi người, đó là những gì Ngài đã thực nghiệm, đã chứng ngộ. Bởi vậy, bất cứ ai chỉ tìm hiểu đạo Phật mà không thực hành pháp của Phật, người ấy sẽ không bao giờ hiểu được đạo Phật là gì.

Chánh pháp do Đức Phật giảng dạycó những đặc tính như sau:

Hiện kiến

Pháp do Đức Phật thuyết giảng pháp ấy có thể thực hành và có thể chứng nghiệm ngay trong giây phút hiện tại.Chẳng hạn, sau khi quán chiếu, Đức Phật đã thấy rõ pháp Mười hai duyên khởi theo lưu chuyển là thấy ngay gốc rễ của sinh tử. Và Ngài quán chiếu pháp Mườihai duyên khởi theo hoàn diệt là thấy rõ ngay sự có mặt của giải thoát và giác ngộ.

Lại nữa, trong khi quán chiếu pháp Mười hai duyên khởi theo lưu chuyển, thì trong đó Ngài đã thấy rõ ngay Khổ đế và Tập đế. Và trong khi quán chiếu pháp Mười hai duyên khởi theo hoàn diệt thì ngay ở giây phút ấy, Ngài thấy rõ Diệt đế và Đạo đế. Do tu tập và thấy rõ pháp một cách thường xuyên như vậy, nên thực hành pháp của Phật, hành giả có thể chứng nghiệm đời sống giải thoát và an lạc trong từng giây phút của sự sống, nghĩa là có chứng ngộ và sự giải thoát ngay trong cuộc sống này.

Vô nhiệt

Pháp của Phật có hiệu năng làm tươi mát tâm hồn của những ai thực hành nó. Vì pháp ấy đối trị phiền não, mà phiền não là trạng thái làm cho thân tâm nóng bức, khó chịu và khổ đau. Một khi thân đã có những cảm giác khó chịu, thì nó sẽ tác động lên tâm và ngược lại tâm có những cảm giác khó chịu thì nó cũng tác động lên thân, cả thân lẫn tâm đều phát sinh ra những cảm giác khó chịu, và bệnh hoạn cũng có thể phát sinh ra từ những sự bực bội này.

Do đó, một hành giả thực hành pháp của Phật là để trừ bỏ bệnh hoạn của thân và tâm. Lại nữa, bệnh của thân phát sinh là do bốn đại chủng sinh hoạt mâu thuẫn nhau, tạo nên những cảm giác nóng lạnh bất thường, tạo nên những chuyển động của các cơ năng không đều đặn và từ đó chúng có thể phát sinh vô số bệnh lý. Nhưng tất cả những bệnh lý ấy đều bị tác động và ảnh hưởng bởi một tâm hồn bệnh hoạn như lo âu, sợ hãi, khiếp đảm, sầu muộn, sân hận, bất mãn, tham ái, ngu tối mà ra.

Bởi vậy, muốn loại trừ tất cả những bệnh hoạn của thân và tâm, thì hành giả phải thực hành pháp của Phật. Vì chính pháp của Phật là pháp đối trị bệnh hoạn của thân và tâm. Một khi thân và tâm của bất cứ ai không còn bệnh hoạn, thì người ấy có hạnh phúc, có an lạc người ấy có đời sống của Niết-bàn ngay đây và bây giờ.

Thật vậy, con người chỉ có hạnh phúc và an lạc khi nào con người thật sự có được một thân tâm không tật bệnh không phiền não. Nhưng, muốn có được một thân tâm như vậy, thì con người cần phải thực hành pháp của Phật. Vì pháp ấy có hiệu năng làm lắng đọng và tiêu tan tất cả những sự sầu muộn, lo âu, sợ hãi, bất mãn, tham ái, sân hận và u tối của tâm hồn.

Tóm lại, pháp của Phật có tính chất làm tiêu tan tất cả những bệnh hoạn, phiền não và đem lại sự tươi mát, an lạc cho những ai thực hành nó.

Ứng thời

Pháp do Đức Phật thuyết giảng pháp ấy không bị hạn chế bởi không gian và thời gian. Bởi do sự không bị hạn chế này, nên pháp của Phật thích ứng với tất cả mọi không gian và thời gian.Chẳng hạn, trong quá khứ các pháp do duyên mà khởi, trong hiện tại các pháp do duyên mà khởi và trong vị lai các pháp cũng do duyên mà khởi. Vậy, pháp Duyên khởi là pháp do Đức Phật đã giảng dạy, pháp ấy luôn luôn có mặt và thích hợp trong mọi thời gian của thế gian này.

Pháp Duyên khởi do Đức Phật đã giảng dạy, không những ở nơi này các pháp cần có duyên mới sinh khởi, mà ở nơi kia, các pháp cũng cần phải có duyên mới sinh khởi. Vậy, pháp Duyên khởi là pháp Đức Phật đã giảng dạy, pháp ấy luôn luôn có mặt và thích ứng với mọi không gian của thế gian này.

Lại nữa, mọi chúng sanh sinh ra trong quá khứ đều bị những hình thái khổ đau như khổ khổ, hoại khổ, hành khổ như sanh, già, bệnh, chết, cầu mong mà không được là khổ đau phát sinh… Những chúng sanh sinh ra trong hiện tại, hay trong vị lai cũng như bất cứ ở đâu trong cõi đời này cũng đều bị chi phối như vậy cả.

Do đó, bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào trên thế gian này, Đức Phật đều nêu rõ Khổ đế. Và Khổ đế là một sự thật hiển nhiên của các chúng sanh ở thế gian này.

Lại nữa, bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào trong thế gian này, sau khi Đức Phật đã nêu rõ ra Khổ đế, Ngài lại tiếptục chỉ rõ những nguyên nhân phát sinh khổ đau, đó là Tập đế.
Như vậy, Đức Phật nói về Khổ đế và Tập đế là nói về nhân duyên, nhân quả làm sinh khởi sự khổ đau của thế gian. Bởi pháp mà Đức Phật đã nêu rõ như vậy, pháp ấy không bị hạn chế bởi bất cứ thời gian nào và không gian nào của thế gian này vậy.

Lại nữa, sau khi Đức Phật đã nêu rõ những nhân duyên, nhân quả tạo nên sự khổ đau của thế gian, Ngài lại tiếp tục nêu rõ nhân duyên, nhân quả xuất thế gian, đó là Diệt đế và Đạo đế. Diệt đế là kết quả tất yếu do sự tu tập Đạo đế mà thành tựu. Khổ đế và Tập đế đã được Đức Phật thuyết giảng, nhằm nêu rõ lý do mà thế gian bị trói buộc trong sự khổ đau.Đạo đế và Diệt đế được Đức Phật thuyết giảng nhằm nêu rõ con đường và hướng dẫn cách thoát ly sự khổ đau cho chúng sanh để đến nơi hạnh phúc an lạc. Bởi, pháp mà Đức Phật đã chỉ rõ con đường thoát ly sự khổ đau như vậy, pháp ấy không bị giới hạn bởi bất cứ thời gian và không gian nào.

Vì sao như vậy? Vì trong quá khứ,tất cả chúng sanh đã bị khổ đau và tất cả đều có khát vọng giải thoát. Tronghiện tại, tất cả chúng sanh đang bị khổ đau và tất cả đều đang có khát vọnggiải thoát. Trong vị lai, tất cả chúng sanh sẽ bị khổ đau và tất cả đều sẽ cókhát vọng giải thoát. Và không những chúng sanh ở nơi đây mà bất cứ ở đâu trênthế gian này cũng đều như vậy cả. Do tất cả chúng sanh hiện hành trong khônggian và thời gian trên thế gian này đều bị khổ đau và đều có khát vọng giảithoát khổ đau, nên pháp của Phật nói ra, pháp ấy có tính thích hợp với mọikhông gian và mọi thời đại của tất cả chúng sanh vậy. Do pháp của Phật có tínhnhư vậy, nên gọi là ứng thời.

Dẫn đạo

Pháp do Đức Phật thuyết giảng,pháp ấy có tính cách hướng đạo, dẫn đạo, đưa đường, cụ thể và thực tiễn không mơ hồ.

Thật vậy, trước khi Đức Phật sắpnhập Niết-bàn, có những đệ tử lậu hoặc chưa hết, liền thương tiếc khóc lóc,nhưng Ngài đã bình thản dạy bảo rằng: “Các con hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi,Như Lai chỉ là người dẫn đường”. Như Lai tự khẳng định sự hiện hữu của Ngài làngười dẫn đường cho chúng sanh về nơi giác ngộ, và giáo pháp Ngài dạy hẳn nhiêncũng phải mang đầy những tính chất như vậy. Nghĩa là giáo pháp của Phật do Ngàichứng nghiệm mà nói ra, pháp ấy có tính dẫn đạo, có tính khơi mở, chỉ bày, thựcdụng để giác ngộ và hội nhập.

Bởi vậy, trong kinh Đức Phật đãdặn đi, dặn lại nhiều lần với các đệ tử của Ngài rằng: “Các con hãy nương tựa pháp,hãy lấy pháp làm bậc Đạo sư của chính mình”.
Như vậy, trong lời dạy của Đức Phật, chúng ta thấy rằng, pháp với Ngài là một,pháp hiện hữu là Ngài hiện hữu, và Ngài hiện hữu là pháp hiện hữu. Nên, Ngàihiện hữu như một bậc Đạo sư, thì pháp của Ngài hiện hữu cũng hàm ngụ những tínhchất ấy.
Vậy, pháp của Phật hiện hữu là để hướng dẫn cho những ai muốn đi đến đời sốnggiải thoát và giác ngộ; muốn đi đến cuộc sống có trí tuệ và tình thương.

Nói gọn lại, pháp của Phật cótính chất hướng dẫn thực nghiệm, để đi đến đời sống an lạc, giải thoát cho đờinày và đời sau, cho bất cứ ai muốn thực hành nó.

Cận quán

Pháp do Đức Phật thuyết giảng,pháp ấy không phải để tranh cãi, không phải để lý luận, không phải để suy luận.Vì trong kinh Thánh Cầu (Trung Bộ I), Đức Phật dạy: “Pháp do Ta chứng được,thật là sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, cao thượng, siêu lý luận, vidiệu, chỉ có Người trí mới thấu hiểu…”.

Như vậy, người nào đem tâm tranhcãi, đem tâm lý luận, đem tâm suy luận mà đến với đạo Phật, người ấy không baogiờ gặp được đạo Phật. Bởi vì tất cả những gì Đức Phật nói ra, đã trình bày chomọi người, đó là những gì Ngài đã thực nghiệm, đã chứng ngộ. Bởi vậy, bất cứ aichỉ tìm hiểu đạo Phật, mà không thực hành pháp của Phật, người ấy sẽ không baogiờ hiểu được đạo Phật là gì.

Trong kinh Trung Bộ, Đức Phật đãdạy: “Pháp của Ta giảng dạy là để thực hành, chứ không phải để nói”. Vậy, nhữngai đến với đạo Phật là để thực hành pháp của Phật, chứ không phải đến với đạoPhật để mà nói về đạo Phật. Nếu một người chuyên nói về đạo Phật, mà không thựchành đạo Phật, người ấy có thể là con vẹt, là cuốn băng, là tủ đựng sách…người ấy hiển nhiên không phải là nguồn sinh lực của đạo Phật, nên sự an lạc,giải thoát và giác ngộ không bao giờ có mặt nơi họ và người ấy vẫn bị triềnmiên với những khổ đau mà thôi.

Do đó, pháp của Phật có tính cáchcận quán, nghĩa là pháp ấy có tính thực hành, chiêm nghiệm và để an trú vào đờisống giải thoát.

Trí giả nội chứng

Như trong kinh Thánh Cầu, ĐứcPhật nói: “Pháp do Ngài chứng đạt, pháp ấy chỉ có kẻ trí mới thấu hiểu”. Thậtvậy, kẻ ngu si thì tham ái dục, tham danh lợi, chấp ngã sâu nặng, khó mà nhậnthức rõ được chân lý, và rất khó mà từ bỏ được tính chấp thủ của họ.
Bởi vậy, trên thực tế, kẻ có trí tuệ thì hết tâm thương yêu và xây dựng cuộcđời, thường đem lại hạnh phúc an ổn cho đời. Trái lại, kẻ ngu si thường đem tâmnhiễu hại cuộc đời, họ không những đem lại sự đau khổ và bất an cho chính họ,mà còn đem lại sự đau khổ và bất an cho kẻ khác.

Lại nữa, người có trí tuệ thìluôn luôn khai mở để cho mọi người thấy rõ chân lý. Trái lại, kẻ ngu si thìthường làm cho chân lý khuất lấp và hay phỉ báng những điều hay lẽ phải.
Do đó, đối với giáo pháp cao thượng, kẻ ngu si không dễ gì tiếp cận, huống nữalà thực hành để có được sự nội chứng. Trái lại, người có trí tuệ thì đối vớipháp của Phật, họ sẽ tiếp cận một cách dễ dàng, khi nghe Đức Phật nêu rõ chânlý một cách minh thị. Họ không còn nghi ngờ gì nữa, khi nghe Đức Phật dạy rằng:Đây là Khổ, đây là Tập, đây là Diệt, đây là Đạo. Hoặc nói rằng, khát ái, vôminh, chấp thủ năm uẩn là tự ngã… đó là những tác nhân, tác duyên của mọi sựkhổ đau.

Và họ cũng không nghi ngờ gì nữa,khi nghe Đức Phật dạy rằng, các pháp do duyên sinh thì không có tự tính, chúngsinh động, vô thường và không thực hữu. Chúng chỉ tồn tại trong sự tác động qualại hỗ tương, và chúng hiện hữu trong vòng nhân duyên, nhân quả vô tận. Và họkhông còn nghi ngờ gì nữa về pháp Bát chánh đạo, là con đường dẫn đến hạnhphúc, an lạc Niết-bàn.

Bởi, đời sống của trí tuệ là nhưvậy, nên pháp của Phật đã được người trí tiếp cận và thực hành bằng đời sốngnội quán của chính họ.

Pháp hay Dharma còn có nghĩa làtrí tuệ, nên người nào chứng nghiệm được pháp, người ấy được mệnh danh là cótrí tuệ.

Bởi vậy, Đức Phật là người đầutiên trong cõi đời này chứng ngộ được pháp, nên Ngài được mệnh danh là bậc TríTuệ ở trong đời. Và người đầu tiên dẫn dắt mọi người đi trên con đường trí tuệ.Bởi pháp của Phật có tính chất như vậy, nên pháp ấy được chứng ngộ bởi ngườitrí. Và người được gọi là có trí tuệ, khi nào kẻ ấy chứng ngộ được pháp.
Pháp của Phật do có những tính chất đã được đề cập ở trên, nên bất cứ ai thựchành nó, đều có thể phát sinh đời sống trí tuệ và có sự giải thoát ngay trongcuộc đời này.

THÍCH THÁI HÒA

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Bài viết cùng chuyên mục:

Giải mã Phật viện Đồng Dương nhìn từ cấu trúc của Thai tạng giới mạn-đà-la Mật tông.
Lịch sử, Nghiên cứu, Văn hóa

Phế  tích Đồng Dương (1) là tổ hợp kiến trúc đền-tháp Phật giáo quan trọng nhất của vương quốc Champa, hiện tọa lạc tại xã Bình Định Bắc, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Phế tích đồ sộ này đã được Henri Parmentier và Charles Carpeaux khai quật trong thời gian từ ngày 07-9-1902 đến...

Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử và Thiền phái Liễu Quán – Những nét tương đồng
Lịch sử, Nghiên cứu

TÓM TẮT Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử là thiền phái Phật giáo yêu nước, nhập thế, kết hợp chặt chẽ giữa đời và đạo, đạo với đời. Vào thế kỷ XVII-XVIII, hệ tư tưởng của thiền phái Trúc Lâm lại có điều kiện tỏa sáng trong đời sống người dân. Hệ tư tưởng này...

Tư tưởng nhập thế của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử trong sự nghiệp đoàn kết, xây dựng và phát triển đất nước
Luận, Nghiên cứu, Văn hóa

Tóm tắt: Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ thế kỉ thứ I trước Công nguyên và đồng hành trong đời sống tinh thần của dân tộc. Tuy nhiên, đến thế kỷ 13 khi xuất hiện Thiền phái Trúc Lâm mà vua Trần Nhân Tông là vị tổ sư khai sáng thì Phật giáo...

Tinh thần nhập thế, hộ quốc an dân và công hạnh các bậc cao tăng trong lịch sử
Nghiên cứu, Văn hóa

Tinh thần nhập thế của Phật giáo đã có từ thời Mâu Tử, nhưng dưới thời Vua Trần, thì được phát triển mạnh mẽ nhất. Đặt nền móng cho tinh thần nhập thế ấy là khi tướng Trần Thủ Độ nói với Vua Trần Thánh Tông: “Tôi dám nói rằng bệ hạ vì sự tự...

Ảnh hưởng của Phật giáo trong văn học chữ Nôm giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX
Lịch sử, Nghiên cứu, Văn hóa

Giai đoạn lịch sử xã hội đầy biến chuyển, phản ảnh đời sống con người văn học chữ Nôm giai đoạn này cũng đã ghi nhận vào mình khá đầy đủ mọi phương diện về đời sống tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng. Đời sống ấy được quy chiếu vào văn thơ...

Tôn Sư trọng Đạo – dưới góc nhìn của đạo Phật
Nghiên cứu, Văn hóa

Nói đến truyền thống Tôn sư trọng đạo là nói đến mối quan hệ tương tức và tương nhập. Đây là mối quan hệ cùng nhau, nếu thiếu hay tách biệt sẽ không tồn tại. Có cả thầy và trò trong mối quan hệ trong nhau, cùng nhau, để hiện hữu, chuyển tải và hóa Đạo...

Tìm hiểu trai đàn Giải oan Bạt độ trong nghi lễ Phật giáo xứ Huế
Nghiên cứu, Văn hóa

Trai đàn Giải oan bạt độ là một pháp phương tiện. Nó nhắc nhở mỗi con người nên tự thân ý thức về những hành nghiệp của mình, đừng để gây ương lụy để rồi thọ khổ quả, đó là ý nghĩa “lấy việc độ tử mà độ sinh” trong Đạo Phật. Dẫn nhập: Nghi lễ...

Vai trò của Hòa thượng Giác Tiên đối với phong trào chấn hưng Phật giáo ở Trung Kỳ
Lịch sử, Nghiên cứu

Mở đầu Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ rất sớm, với sứ mệnh “đồng hành” cùng dân tộc cũng bắt đầu từ đó. Vì vậy, sự hưng suy của một quốc gia cũng chính là những nốt nhạc “trầm bổng” của đạo Phật. Nó đã được giới thiệu vào thời hoàng kim của...

Lễ Sóc, Vọng trong lịch sử
Lịch sử, Nghiên cứu, Văn hóa

Hàng tháng, mỗi ngày Rằm, mùng Một Âm lịch, người Việt có thói quen thắp hương nhằm thỉnh cầu các vị thần linh, tổ tiên phù hộ cho bình an, hạnh phúc, may mắn… Lịch âm được xây dựng trên cơ sở quan sát chu kỳ, vị trí của Mặt Trăng so với Trái Đất....

Hệ phái Khất sĩ: Quá trình phát triển và những đóng góp
Lịch sử, Nghiên cứu

Tóm tắt Đạo Phật Khất sĩ Việt Nam xuất hiện trong một giai đoạn đặc biệt của đất nước khi bị bảo hộ của Pháp. Xã hội tồn tại hai sắc thái rõ rệt. Nông gia và thành thị. Do tính tương phản của văn hóa và nếp sống đó, một thời gian dài xã hội...

Thiền phái Liễu Quán: Sự truyền thừa và phát triển
Lịch sử, Nghiên cứu

Tóm tắt: Thiền phái Lâm Tế Trung Quốc du nhập vào  Đàng Trong Việt Nam  nửa cuối thế kỷ XVII qua bước chân hoằng hóa của chư Tổ sư người Hán. Kế thừa truyền thống chư Tổ thiền phái Trúc Lâm Việt Nam; Thiền sư Liễu Quán (1667-1742) sau khi đắc pháp với Đại sư Minh...

Tư tưởng thiền phái Tào Động Trung Hoa và ở Việt Nam
Lịch sử, Nghiên cứu

Dẫn nhập Phái Tào Động được thành lập vào khoảng cuối đời Đường. Thiền sư Động Sơn Lương Giới tu học và đắc đạo nơi thiền sư Vân Nham Đàm Thịnh. Thiền sư đến hoằng pháp tại Đông Sơn Phổ Lôi Thiền Tự ở Giang Tây, phát huy tông phái lớn mạnh, sáng lập giáo...

Lịch sử hình thành và bản chất của giáo hội Phật giáo cổ truyền Việt Nam
Lịch sử, Nghiên cứu

1. Lịch sử hình thành Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam Lịch sử đã ghi nhận Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam ra đời vào năm 1969 (Kỷ Dậu) là hậu thân của các tổ chức “Lục Hòa Liên Xã” (ra đời vào năm 1922), “Hội Phật giáo cứu quốc Nam...

Trang trí hoa văn chữ Vạn tại lăng Khải Định – Huế
Kiến trúc-Mỹ thuật, Nghiên cứu

Trang trí hoa văn chữ Vạn ở lăng Khải Định – Huế là một ví dụ cụ thể, bên cạnh các yếu tố thẩm mỹ, nó còn thể hiện một đời sống tâm hồn giàu chất mỹ cảm nguyên sơ mà phong phú, hòa quyện với đời sống tâm linh mang màu sắc Phật giáo...

Tiếp biến văn hóa Việt-Chăm và Việt-Hoa nhìn từ chùa Việt ở Khánh Hòa
Nghiên cứu, Văn hóa

Tóm tắt: Từ xưa đến nay, chùa Việt ở Khánh Hòa không chỉ thỏa mãn nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo, mà nó còn góp phần gìn giữ, trao truyền các giá trị văn hóa truyền thống cũng như phản ánh sắc thái địa phương. Chùa Việt ở Khánh Hòa ngoài thờ Phật còn dung hòa...

Về pho tượng phật lớn của Phật viện Đồng Dương
Kiến trúc-Mỹ thuật, Nghiên cứu

TÓM TẮT Đi từ mô tả lại thực trạng của pho tượng Phật lớn nhất của người Chăm ở Đồng Dương, bài viết rút ra đặc điểm riêng về cách ngồi, kết tay, y phục,… có sự ảnh hưởng của nghệ thuật Trung Hoa, Nhật Bản. Từ đây, bài viết liên hệ tới một số...