Phật viện Đồng Dương được mệnh danh là “Phật viện Phật giáo đầu tiên của Đông Nam Á”, được xếp hạng “Di tích Quốc gia đặc biệt”. Mặc dù Phật viện Đồng Dương đã bị thời gian làm bào mòn nhưng các giá trị của nó để lại vẫn hiện hữu với thời gian.

1. GIÁ TRỊ LỊCH SỬ 

Phật viện Đồng Dương là chứng nhân lịch sử một thời vàng son của vương quốc Champa. Vương triều Indrapura đã dành sự ủng hộ to lớn cho Phật giáo. Đời sống của Tăng sĩ được nhà nước bảo hộ. Họ được cung cấp vật thực cho đến nhân lực để phục vụ cho công cuộc hoằng dương giáo pháp. Phật giáo một khi bén rễ, ăn sâu vào tâm thức người dân, nhất là các bậc đứng đầu quốc gia thì sự ủng hộ từ những vị này đã tạo điều kiện cho việc phát triển cơ sở vật chất rất lớn. Họ không chỉ chú trọng rèn luyện đạo đức mà còn tu tạo cơ sở thờ tự như là một phần tích tạo công đức. Trong bia ký tại Đồng Dương còn ghi lại lời vua Indravarman II như sau: “Vua, nhờ có linh hồn cao thượng không ngừng được thanh lọc từ đời này qua đời khác” [1]. Như vậy, chứng tỏ người lên làm vua không phải được kế thừa từ cha ông mà từ đạo đức người ấy đã thực hành trong quá khứ.

Tuy nhiên, sau giai đoạn huy hoàng, Phật giáo dần bị suy yếu. Nguyên nhân xuất phát từ các yếu tố sau:

1/ Nhà nước Champa được tổ chức theo thể chế liên bang, các nhà sử học ví nó giống như mô hình Mạn-đà-la. Sự thay đổi vị trí của các tiểu vương trong việc nắm quyền dẫn đến tư tưởng cũng thay đổi. Minh chứng rõ nhất là dưới thời vua Indrapura, Phật giáo phát triển cực thịnh; nhưng đến thời vua Vijaya, Phật giáo dần suy yếu rồi tiêu vong.

2/ Văn hóa người Chăm bị chi phối rất nhiều về tôn giáo. Họ được tự do tín ngưỡng, có thể theo bất cứ tôn giáo nào họ muốn.

3/ Phật giáo không có vai trò to lớn trong việc củng cố quyền lực như đạo Bà-la-môn. Phật giáo chủ trương bình đẳng, không phân chia giai cấp. Trong khi đó, Bà-la-môn lại phân chia xã hội thành 4 giai cấp theo tư tưởng Vệ-đà. Chính sự khác biệt này làm cho hai tôn giáo không thể dung hòa trong cùng một xã hội. Bên cạnh đó, nguyên nhân khách quan cũng ảnh hưởng không nhỏ. Do chiến tranh liên miên với lân bang đã dẫn đến vương triều Indrapura bị xóa sổ. Vương triều suy vong, Phật giáo cũng bị ảnh hưởng theo. Hơn nữa, sự trỗi dậy của Bà-la-môn giáo tại Ấn Độ đã tác động mạnh mẽ đến tôn giáo này tại Champa. Một nguyên nhân khách quan nhưng cũng ảnh hưởng rất lớn, chính là việc truyền bá tư tưởng Phật học cao siêu khiến người dân khó tiếp nhận và ứng dụng vào đời sống [2].

Như một nguyên lý của sự vận hành theo quy luật tự nhiên “thịnh quá hóa suy”, Phật giáo Ấn Độ đã phát triển vượt bậc, vươn ra các nước trong khu vực kể từ thời vua Asoka. Nhưng đến thế kỷ XIII, vì nhiều nguyên nhân trong đó có ngoại xâm, khiến Phật giáo suy yếu và biến mất ngay trên mảnh đất Ấn Độ. Phật giáo Việt Nam dưới thời Lý-Trần cũng phát triển cực thịnh, nhưng đến cuối thời Trần, Phật giáo đã suy vi. Đây cũng là bài học cho thế hệ sau.

Phật viện Đồng Dương là chứng nhân lịch sử một thời vàng son của vương quốc Champa.
(Ảnh: internet)

2. GIÁ TRỊ VĂN HOÁ 

Cuối thế kỷ II, sau nhiều lần đấu tranh, người Chăm đã độc lập khỏi ách đô hộ của Trung Hoa và xây dựng nhà nước mới là Lâm Ấp. Họ đã tiếp nhận văn hóa Ấn Độ một cách tự nhiên. Do nằm trên trục giao thông đường biển nên người dân sớm có sự tiếp xúc, trao đổi văn hóa với người Ấn. Trong lịch sử, người Chăm đã tiếp thu Phật giáo sớm. Theo Cựu Đường thư ghi nhận “Lâm Ấp theo Phật giáo” hay “Người Chăm theo Phật giáo, đa số xuất gia” [3]. Văn hóa Champa chịu ảnh hưởng sâu sắc từ văn hóa Ấn Độ. Không chỉ trong các đền thờ mà ngay cả điện thờ Phật cũng có các tượng thần Vishnu và điển hình nhất là việc xây dựng các cơ sở thờ tự ở các nơi.

Các nhóm tượng được tìm thấy tại Đồng Dương đã giúp người đời sau thấy phong cách y phục của họ: Một mảnh vải gọi là Kama quấn quanh người từ phải sang trái và che từ ngang lưng xuống đến chân. Ngoài mảnh vải đó ra, cả đàn ông và đàn bà không mặc thêm cái gì nữa, trừ mùa đông mặc thêm một cái áo dày. Đại đa số thường dân đều đi chân đất [4]. Đây là phong cách tiêu biểu cho một thời kỳ văn hóa của người dân Champa.

Minh văn khắc trên bia tại Đồng Dương cho ta thấy đời sống của người dân rất sung túc, hoa màu thu hoạch từ những cánh đồng lớn, các vật dụng bằng vàng, bạc, đồng, sắt,… được vua dâng cúng cho vị Bồ tát bảo hộ vương triều và để Tăng chúng lo việc hoằng pháp. Những ghi chép này đã phản ánh những sinh hoạt náo nhiệt của đời sống nông nghiệp cũng như sự phát triển phong phú của ngành sản xuất. Đồng thời, còn phản ánh niềm tin tôn giáo luôn đóng một vai trò rất quan trọng trong đời sống tinh thần và chi phối mọi hoạt động của người dân.

Giống như Phù Nam và Chân Lạp, đất nước Champa nằm trong khối Nam bán đảo Đông Dương, chịu ảnh hưởng văn minh và văn hóa Ấn Độ từ rất sớm. Theo chân những đoàn thuyền buôn là những Tăng lữ Bà-la-môn và Phật giáo, họ là những người đầu tiên truyền bá văn hóa tôn giáo vào vùng đất này. “Vào khoảng nửa thế kỷ I Công nguyên chắc chắn đã có cuộc tiếp xúc giữa những người mang văn hóa Ấn Độ với những người dân bản địa Bắc – Trung – Nam nước ta lúc bấy giờ. Nhiều Tu sĩ đã đến tu và truyền giáo ở nước ta đó là cơ sở hình thành một lớp văn minh Phật giáo, Bà-la-môn giáo đầu tiên” [5]. Chính hai tầng lớp Tăng lữ Bà-la-môn và Phật giáo đã dung hòa nhau trong đời sống người dân, tạo nên một sự hỗn dung văn hóa, tín ngưỡng.

Phật giáo sau thời kỳ phát triển mạnh mẽ và rộng khắp tại Ấn Độ đã có sự pha trộn giữa Phật giáo và Bà-la-môn giáo. Việc thờ Phật, Bồ tát và các vị Thần trong khuôn viên Phật viện Đồng Dương cho thấy tín ngưỡng, tôn giáo của người Chăm đã dung hòa yếu tố giữa hai tôn giáo này. Nội dung bia ký cũng như các tác phẩm điêu khắc ở Đồng Dương đều mang tính chất Phật giáo Đại thừa. Sau này, nhiều nhà nghiên cứu khi khảo sát và dịch các văn bia liên quan đến Phật giáo của người Chăm qua các bia ký: Bia Đồng Dương, bia An Thái, bia Roòn và bia Võ Cạnh đã đi đến kết luận là Phật giáo Mật tông. Với những thuật ngữ thể hiện nội dung tư tưởng trong đó như từ: Kim Cương, Liên Hoa, Kim luân, Quan Thế Âm, Kim Cương Tát Đỏa, A Di Đà, Tỳ Lô Giá Na… đã dẫn các nhà khoa học đến kết luận như trên [6]. Đây là một nhận định rất thuyết phục để giải quyết vấn đề có nhiều tượng thần của Bà-la-môn giáo trong khu di tích cũng như tên gọi Lokesvara hay Tara cho tượng nữ bằng đồng.

Cuộc khai quật ở khu trung tâm di tích Đồng Dương đã làm xuất lộ những dấu tích các công trình xây dựng cho những mục đích tôn giáo khác nhau, cùng rất nhiều những hiện vật thờ phụng của cả một quần thể kiến trúc lớn. Tuy nhiên, qua quá trình nghiên cứu, các nhà khoa học đã khẳng định khu di tích Đồng Dương chính là tu viện hay Phật viện thờ Lakshmindra Lokesvara đã được ghi chép trong bia ký. Vì mang chức năng mới của một tôn giáo mới, nên tổng thể khu di tích cũng như những kiến trúc riêng lẻ rất khác so với của những mô hình kiến trúc mang đậm tinh thần Bà-la-môn giáo được xây dựng ở một số địa phương trước đó. Nét mới hay sự khác biệt đầu tiên của Đồng Dương chính là những công trình cộng đồng chiếm diện tích khá lớn trong tổng thể khu di tích, mà tiêu biểu là nhà dài của khu II và nhà cột của khu III. Ngoài phần chánh điện còn phát hiện hệ thống nền gạch của một khu Tăng xá, giảng đường nối nhau trên một chu vi rộng lớn. Những viên ngói dùng lợp cho các khu xây dựng cũng được phát hiện rải rác, chứng minh đây là mô hình Phật viện khép kín cho công cuộc đào tạo Tăng tài [7].

3. GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT 

Nghệ thuật Champa được chia ra các giai đoạn: Giai đoạn nghệ thuật miền Bắc (thế kỷ VII-XI), phong cách Mỹ Sơn E1 (thế kỷ VII-VIII), phong cách Đồng Dương: (thế kỷ IX-X), phong cách Mỹ Sơn A1 (thế kỷ X-XI) và giai đoạn miền Nam (sau thế kỷ XI đến thế kỷ XV). Các tháp thuộc phong cách Đồng Dương, theo nghiên cứu, đều chứa hàng trụ bổ tường và vòm cửa trông rất khỏe khắn. Có thể nói, đây là điểm khác biệt giữa phong cách Đồng Dương và các phong cách Mỹ Sơn. Đỉnh cao của phong cách Đồng Dương là kiến trúc một tu viện Phật giáo vào cuối thế kỷ IX. Bức tường tu viện dài đến một cây số và có rất nhiều tượng Phật. Xưa kia, tường dùng để nối thông những đền tháp lại với nhau và dùng làm thành lũy chống cướp bóc [8]. Rất tiếc là di tích đã bị phá hủy nhưng nhiều học giả cho rằng khi còn nguyên vẹn, di tích này cũng giống như các tu viện Phật giáo ở miền Bắc Ấn Độ [9].

Bồ tát Phật, phát hiện tại Đồng Dương, cuối thế kỷ IX đến đầu thế kỷ X.
(Ảnh: sưu tầm)

Tính chất Phật giáo của khu di tích Đồng Dương được thể hiện rõ nét từ: Bia ký để lại, quần thể kiến trúc độc đáo, pho tượng Phật cao 108cm, tượng Lokesvara, bệ thờ chính và nhóm tượng ở Vihara (Phật điện), các khu nhà dài dành cho Tăng chúng sinh hoạt, các kiến trúc có hình dáng như chiếc cột vây quanh những tháp cổng nằm ở bên bờ của mỗi bức tường vành đai là những công trình không xuất hiện trong tất cả các ngôi đền của Champa. Về hình dáng, chúng trông như hình ảnh chiếc lọng ô của Phật giáo: có hình trụ bên dưới với những đai vòng tròn nhỏ dần và có chiếc chóp nón bên trên.

Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu, tất cả những chi tiết khác biệt và rất đặc trưng nói trên đã để lại những ấn tượng mạnh mẽ cho các công trình kiến trúc trong Phật viện. Trước hết, đó là ấn tượng to lớn ở các ngôi đền Đồng Dương, đường rãnh dọc chạy giữa những chiếc cột ốp, đặc biệt là ở các cột ốp tại các góc tường được khắc sâu hơn; còn các cửa (cả cửa ra vào và cửa giả) được đóng khung không phải bằng những cột ốp, mà bằng những cột đá bề thế hình bát giác. Thứ hai, là ấn tượng về chiều ngang mạnh mẽ được biểu lộ rõ qua những đường gờ ngang được chạm sâu và nổi cao ở hai phần chân và đầu tường, thậm chí trên những chiếc cột đá bát giác được gắn vào hai bên các cửa cũng có các đường gờ ngang nổi cao như những vòng nhẫn lớn.

Đối với nghệ thuật điêu khắc, ngoài bệ thờ chính, tượng các vị Bồ tát trên Phật điện thì hai pho tượng được phát hiện tại Đồng Dương là tài sản vô giá làm nên giá trị lịch sử và văn hóa cho Phật viện Đồng Dương. Thứ nhất, tượng Phật đúc liền từ một khối bằng đồng, có chiều cao 108cm (không kể bệ sen) trong tư thế đứng mang phong cách nghệ thuật Amaravati với đầu tròn, tóc xoắn ốc, nhục kế nhô cao, hai tai dài, y phục được gấp nhiều nếp, tay phải kết ấn. Thứ hai, tượng Alokesvara mà nhiều nhà khoa học trong thời gian dài đã đưa ra những tên gọi không thống nhất Laksmindra-Lokesvara, Prajnaparamita hay Tara.

Trong bài viết “Nhận thức mới về pho tượng Bồ tát bằng đồng của Đồng Dương: Laksmindra-Lokesvara, Prajnaparamita hay Tara?” [10] của Trần Kỳ Phương và Nguyễn Tú Anh đăng trên trang của Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng đã trình bày nhận định và tên gọi khác nhau của các nhà khoa học về tượng này. Từ tên gọi ban đầu là Laksmindra-Lokesvara, cho đến tên Prajnaparamita hay Tara, mỗi nhà khoa học đều đưa ra những cơ sở để đi đến việc đặt tên cho pho tượng. Qua nghiên cứu trang trí trên tóc của bức tượng, hai tác giả đã đi đến kết luận: tượng này là Tara xanh mà không phải là Bồ tát. Tuy nhiên, người viết nhận thấy vấn đề này cần phải xem xét lại cho cẩn thận. Bởi lẽ, như minh văn trong bia Đồng Dương đã nêu rõ là “tất cả những cánh đồng này đức vua dâng cho Lokesa”. Lokesa là viết tắt từ Avalokitesvara, có nghĩa là Bồ tát Quan Thế Âm. Hơn nữa, danh từ Tara (tiếng Phạn Tārā) là tên của một vị nữ Bồ tát thường gặp trong Mật tông. Ngay từ thế kỷ VI-VII, Hindu giáo tại Ấn Độ đã có một số yếu tố xâm nhập vào Phật giáo tạo nên một tông phái mới trong Phật giáo là Mật tông. Nữ thần Tara trong Hindu giáo là một nhân vật rất thích máu. Trong bài viết “Tara từ tín niệm Hindu đến các độ mẫu Phật giáo” [11] đã phân tích mối liên hệ giữa Tara và Bồ tát Quan Âm: “Trong Phật giáo Tây Tạng, Tara được đề cập như là vị Bồ tát của lòng từ bi và cứu độ. Tara là mặt nữ tính của Avalokiteśvara/Quán Thế Âm Bồ tát.” Chính vì vậy, có một thời, người ta xem Mật tông là “quái thai của Phật giáo” vì đã dung nạp tín ngưỡng của Hindu giáo. Vấn đề người viết muốn nêu ra ở đây chính là: Do sự thịnh hành của Mật tông trong văn hóa Champa mà tại Phật viện Đồng Dương đã có bức tượng này, cũng như để giải thích cho sự tồn tại các bộ tượng Shiva… trong khu vực thờ cúng dành riêng cho Phật giáo.

Đài thờ Phật, phát hiện tại Đồng Dương (Ảnh: sưu tầm)

Không chỉ từng khu kiến trúc riêng lẻ, mà cả quần thể những công trình xây dựng lớn nhỏ của Phật viện kết hợp lại tạo ra một ấn tượng đặc biệt hoành tráng và nguy nga có một không hai. Những ngôi đền thờ nằm bên trong bức tường bao khá dài. Những khoảng sân gạch, những ngôi đền, những gian phòng, những chiếc cổng lớn… lấp đầy phần bên trong Phật viện. Ở khoảng cực Tây của Phật viện, là cả một quần thể kiến trúc được tạo bởi tòa tháp trung tâm mở ra bốn hướng và mười tám ngôi đền lớn nhỏ bao quanh. Kiến trúc này được thiết kế theo kiểu Mạn-đà-la, nhất là ở khu I.

Như vậy, Phật viện Đồng Dương là một công trình kiến trúc Phật giáo có quy mô và kích thước vào loại lớn nhất khu vực Đông Nam Á thế kỷ IX-X. Những dấu tích để lại đã được phát lộ cho thấy, bên cạnh một loạt những yếu tố của kiến trúc và nghệ thuật Phật giáo, những truyền thống nghệ thuật và kiến trúc Bà-la-môn giáo truyền thống của Champa vẫn được duy trì và phát triển trong Phật viện Đồng Dương. Chính sự kết hợp sáng tạo giữa hai dòng văn hóa và nghệ thuật này đã sản sinh ra phong cách nghệ thuật Phật giáo Đồng Dương, một trong những phong cách nghệ thuật Phật giáo lớn nhất, đẹp nhất và cũng đặc sắc nhất của nghệ thuật Phật giáo thế giới thế kỷ IX – X .

4. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA 

G. Goedes đã từng nói: “Lịch sử Champa là một bộ phận hội nhập của lịch sử Việt Nam”. Vì lẽ đó, những gì Phật viện Đồng Dương để lại cũng là một phần trong nền văn hóa chung của dân tộc Việt Nam. Việc gìn giữ và phát huy các giá trị mà người Chăm nói chung và Phật giáo Champa nói riêng là trách nhiệm của đời sau. Công trình “Thống kê khảo tả các di tích Chăm ở Trung Kỳ” của H. Parmentier đã cho chúng ta một cái nhìn khách quan về hiện trạng của các ngôi tháp Champa còn lại trên lãnh thổ. Theo ghi nhận của ông, các tỉnh từ Quảng Bình đến Bình Thuận, cũng như một số tỉnh Tây Nguyên đều có các di tích hay phế tích và con số lên đến hàng trăm. Nhưng hiện tại chỉ còn lại 21 di tích là một con số quá ít, nên việc bảo tồn, gìn giữ và tiếp tục khai quật là một trong những công tác cần sự quan tâm hơn nữa của nhà nước.

Việc trùng tu các ngôi đền tháp cổ Champa đang là vấn đề được các nhà khoa học quan tâm và đã xảy ra những vấn đề nan giải vì đối tượng cần bảo quản quá mới đối với khoa học. Việc tìm ra giải pháp tối ưu vẫn là vấn đề nan giải, từ việc sử dụng nguyên vật liệu cho đến việc lắp đặt mái che đều có những ưu khuyết điểm của nó. Từ những thách thức đó, cho ta thấy được trình độ điêu khắc của người Chăm đạt đến tầm cao. Những công trình còn hiện hữu như là chứng nhân cho những bàn tay và trí tuệ siêu phàm của họ.

Việc hàng trăm di tích đã nằm trong lòng đất hay trở thành phế tích, nếu được bảo vệ và nghiên cứu sẽ tiếp tục cung cấp cho hậu thế một cái nhìn toàn vẹn về đất nước và con người Champa. Nhờ việc khai quật của các nhà khoa học vào đầu thế kỷ XX đã giúp cho “nền điêu khắc cổ Champa được vinh danh là một trong những nền điêu khắc cổ đẹp nhất và có giá trị nhất khu vực Đông Nam Á và Châu Á” [12]. Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật tiên tiến, hiện đại, chúng ta lại càng nhận biết thêm những giá trị mà trong suốt một thời gian dài đã được dân gian “huyền thoại hóa” thành những câu chuyện ly kỳ, đầy bí ẩn về “thiên tài” xây dựng của người Champa xưa. Họ xem những kiệt tác nghệ thuật kiến trúc dường như không phải do con người trần thế sáng tạo ra [13].

Những nét đặc sắc và những cổ vật tại Đồng Dương đã tạo nên nét riêng cho Phật giáo Việt Nam cũng như lịch sử nước nhà. Đồng thời, những gì liên quan Phật viện Đồng Dương đã tạo nên sức hút đối với các nhà khoa học trong và ngoài nước qua các thế hệ. Điều đó chứng minh được tầm quan trọng của khu di tích có một không hai trong lịch sử. Với sự đóng góp như thế, thiết nghĩ trong tương lai, nhà nước cần có những biện pháp để khôi phục lại phế tích Đồng Dương để nó không bị thời gian tiếp tục làm hư hoại, cũng như không bị phai mờ trong tâm trí người đời sau.

SC. Thích Nữ Minh Ðạt/ Tạp chí văn hóa Phật giáo

Chú thích và tài liệu tham khảo:
[1] Georges Maspero (2020), Vương quốc Champa, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia dịch, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr.187.
[2] Quảng Văn Sơn (2014), “Phật giáo Champa từ tư liệu đến nhận thức”, Nghiên cứu Tôn giáo, số 06 (132),  tr.54-55.
[3] Cựu Đường thư, Q.197, Liệt truyện 147, Nam Man, phần “Lâm Ấp quốc”.
[4] Georges Maspero, Sđd, tr.36.
[5] Cao Xuân Phổ, Những ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ vào Việt Nam, tài liệu chuyên khảo cho nghiên cứu sinh, Tư liệu Viện Khảo cổ học.
[6] Nguyễn Sinh Duy (2013), Quảng Nam, những vấn đề lịch sử, Nxb. Văn học, tr.394.
[7] Ngô Văn Doanh (2015), Phật viện Đồng Dương – Một phong cách nghệ thuật của Champa, Nxb. Văn hóa-Văn nghệ, tr.40.
[8] Georges Maspero, Sđd, tr.53.
[9] “Phong cách nghệ thuật Champa” https://vi.wikipedia.org/wiki/.
[10] “Nhận thức mới về pho tượng Bồ tát bằng đồng của Đồng Dương: Laksmindra-Lokesvara, Prajnaparamita hay Tara?”, https://chammuseum.vn/view.aspx?ID=436.
[11] “Tara từ tín niệm Hindu đến các độ mẫu Phật giáo”, http://hoangphap.info/Page.aspx?ArticleID=5880&ID=2&SubID=5.
[12] Ngô Văn Doanh (2019), Tháp cổ Champa, Nxb. Văn hóa Văn nghệ, tr.348.
[13] Ngô Văn Doanh (2019), Sđd, tr.349.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Bài viết cùng chuyên mục:

Tứ diệu đế với vấn đề giáo dục đạo đức toàn cầu
Luận, Phật học, Văn hóa

TÓM TẮT Tứ diệu đế hay là bốn chân lý vĩ đại của Phật giáo chính là cốt tủy cơ bản để hợp thành học thuyết nhân sinh cứu đời. Đó là kết quả suy ngẫm và trải nghiệm thông qua thực tiễn cuộc sống của chính Phật tổ và sự tổng kết những suy...

Giải mã Phật viện Đồng Dương nhìn từ cấu trúc của Thai tạng giới mạn-đà-la Mật tông.
Lịch sử, Nghiên cứu, Văn hóa

Phế  tích Đồng Dương (1) là tổ hợp kiến trúc đền-tháp Phật giáo quan trọng nhất của vương quốc Champa, hiện tọa lạc tại xã Bình Định Bắc, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Phế tích đồ sộ này đã được Henri Parmentier và Charles Carpeaux khai quật trong thời gian từ ngày 07-9-1902 đến...

Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử và Thiền phái Liễu Quán – Những nét tương đồng
Lịch sử, Nghiên cứu

TÓM TẮT Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử là thiền phái Phật giáo yêu nước, nhập thế, kết hợp chặt chẽ giữa đời và đạo, đạo với đời. Vào thế kỷ XVII-XVIII, hệ tư tưởng của thiền phái Trúc Lâm lại có điều kiện tỏa sáng trong đời sống người dân. Hệ tư tưởng này...

Tư tưởng nhập thế của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử trong sự nghiệp đoàn kết, xây dựng và phát triển đất nước
Luận, Nghiên cứu, Văn hóa

Tóm tắt: Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ thế kỉ thứ I trước Công nguyên và đồng hành trong đời sống tinh thần của dân tộc. Tuy nhiên, đến thế kỷ 13 khi xuất hiện Thiền phái Trúc Lâm mà vua Trần Nhân Tông là vị tổ sư khai sáng thì Phật giáo...

Tinh thần nhập thế, hộ quốc an dân và công hạnh các bậc cao tăng trong lịch sử
Nghiên cứu, Văn hóa

Tinh thần nhập thế của Phật giáo đã có từ thời Mâu Tử, nhưng dưới thời Vua Trần, thì được phát triển mạnh mẽ nhất. Đặt nền móng cho tinh thần nhập thế ấy là khi tướng Trần Thủ Độ nói với Vua Trần Thánh Tông: “Tôi dám nói rằng bệ hạ vì sự tự...

Ảnh hưởng của Phật giáo trong văn học chữ Nôm giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX
Lịch sử, Nghiên cứu, Văn hóa

Giai đoạn lịch sử xã hội đầy biến chuyển, phản ảnh đời sống con người văn học chữ Nôm giai đoạn này cũng đã ghi nhận vào mình khá đầy đủ mọi phương diện về đời sống tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng. Đời sống ấy được quy chiếu vào văn thơ...

Tôn Sư trọng Đạo – dưới góc nhìn của đạo Phật
Nghiên cứu, Văn hóa

Nói đến truyền thống Tôn sư trọng đạo là nói đến mối quan hệ tương tức và tương nhập. Đây là mối quan hệ cùng nhau, nếu thiếu hay tách biệt sẽ không tồn tại. Có cả thầy và trò trong mối quan hệ trong nhau, cùng nhau, để hiện hữu, chuyển tải và hóa Đạo...

Tìm hiểu trai đàn Giải oan Bạt độ trong nghi lễ Phật giáo xứ Huế
Nghiên cứu, Văn hóa

Trai đàn Giải oan bạt độ là một pháp phương tiện. Nó nhắc nhở mỗi con người nên tự thân ý thức về những hành nghiệp của mình, đừng để gây ương lụy để rồi thọ khổ quả, đó là ý nghĩa “lấy việc độ tử mà độ sinh” trong Đạo Phật. Dẫn nhập: Nghi lễ...

Vai trò của Hòa thượng Giác Tiên đối với phong trào chấn hưng Phật giáo ở Trung Kỳ
Lịch sử, Nghiên cứu

Mở đầu Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ rất sớm, với sứ mệnh “đồng hành” cùng dân tộc cũng bắt đầu từ đó. Vì vậy, sự hưng suy của một quốc gia cũng chính là những nốt nhạc “trầm bổng” của đạo Phật. Nó đã được giới thiệu vào thời hoàng kim của...

Lễ Sóc, Vọng trong lịch sử
Lịch sử, Nghiên cứu, Văn hóa

Hàng tháng, mỗi ngày Rằm, mùng Một Âm lịch, người Việt có thói quen thắp hương nhằm thỉnh cầu các vị thần linh, tổ tiên phù hộ cho bình an, hạnh phúc, may mắn… Lịch âm được xây dựng trên cơ sở quan sát chu kỳ, vị trí của Mặt Trăng so với Trái Đất....

Hệ phái Khất sĩ: Quá trình phát triển và những đóng góp
Lịch sử, Nghiên cứu

Tóm tắt Đạo Phật Khất sĩ Việt Nam xuất hiện trong một giai đoạn đặc biệt của đất nước khi bị bảo hộ của Pháp. Xã hội tồn tại hai sắc thái rõ rệt. Nông gia và thành thị. Do tính tương phản của văn hóa và nếp sống đó, một thời gian dài xã hội...

Thiền phái Liễu Quán: Sự truyền thừa và phát triển
Lịch sử, Nghiên cứu

Tóm tắt: Thiền phái Lâm Tế Trung Quốc du nhập vào  Đàng Trong Việt Nam  nửa cuối thế kỷ XVII qua bước chân hoằng hóa của chư Tổ sư người Hán. Kế thừa truyền thống chư Tổ thiền phái Trúc Lâm Việt Nam; Thiền sư Liễu Quán (1667-1742) sau khi đắc pháp với Đại sư Minh...

Tư tưởng thiền phái Tào Động Trung Hoa và ở Việt Nam
Lịch sử, Nghiên cứu

Dẫn nhập Phái Tào Động được thành lập vào khoảng cuối đời Đường. Thiền sư Động Sơn Lương Giới tu học và đắc đạo nơi thiền sư Vân Nham Đàm Thịnh. Thiền sư đến hoằng pháp tại Đông Sơn Phổ Lôi Thiền Tự ở Giang Tây, phát huy tông phái lớn mạnh, sáng lập giáo...

Lịch sử hình thành và bản chất của giáo hội Phật giáo cổ truyền Việt Nam
Lịch sử, Nghiên cứu

1. Lịch sử hình thành Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam Lịch sử đã ghi nhận Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam ra đời vào năm 1969 (Kỷ Dậu) là hậu thân của các tổ chức “Lục Hòa Liên Xã” (ra đời vào năm 1922), “Hội Phật giáo cứu quốc Nam...

Trang trí hoa văn chữ Vạn tại lăng Khải Định – Huế
Kiến trúc-Mỹ thuật, Nghiên cứu

Trang trí hoa văn chữ Vạn ở lăng Khải Định – Huế là một ví dụ cụ thể, bên cạnh các yếu tố thẩm mỹ, nó còn thể hiện một đời sống tâm hồn giàu chất mỹ cảm nguyên sơ mà phong phú, hòa quyện với đời sống tâm linh mang màu sắc Phật giáo...

Tiếp biến văn hóa Việt-Chăm và Việt-Hoa nhìn từ chùa Việt ở Khánh Hòa
Nghiên cứu, Văn hóa

Tóm tắt: Từ xưa đến nay, chùa Việt ở Khánh Hòa không chỉ thỏa mãn nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo, mà nó còn góp phần gìn giữ, trao truyền các giá trị văn hóa truyền thống cũng như phản ánh sắc thái địa phương. Chùa Việt ở Khánh Hòa ngoài thờ Phật còn dung hòa...