Phật giáo là tôn giáo ra đời cách đây khoảng 26 thể kỷ ở Ấn Độ, sự lan tỏa cũng như tác động của giáo lý Phật đà đến đời sống sinh hoạt cũng như văn hoá của rất nhiều quốc gia, là vô cùng mạnh mẽ.

Việt Nam là một quốc gia có bề dày lịch sử phát triển của Phật giáo, với khoảng trên 2000 năm. Trong suốt tiến trình Phật giáo du nhập vào đất nước Việt Nam, Phật giáo đã có sự đồng hành với những thăng trầm lịch sử dân tộc, cũng như nền văn hoá bản địa.

Người Việt đã khéo léo tiếp thu Phật giáo, hòa quyện với văn hoá bản địa, đưa Phật giáo thành tôn giáo mang đậm sắc dấu ấn văn hóa Việt Nam, hay nói cách khác đạo Phật Việt Nam có những đặc sắc riêng của nền dân tộc Việt Nam. Hình tượng Quan Thế Âm trong Phật giáo, đã được người Việt tiếp nhận gần gũi thân thương như một người mẹ đầy lòng từ bi, với lòng nhân hậu hết mực yêu thương chúng sinh muôn loài. Không những thế hình tượng Quan Thế Âm đã trở thành một yếu tố văn hoá đặc sắc trong đời sống tâm linh người Việt khi được đưa vào trong văn chương, ca dao, lễ hội hay những công trình kiến trúc nghệ thuật mang đậm nét bản sắc văn hoá người Việt.

Hạnh nguyện của Quan Thế Âm Bồ Tát

Có thể nói, hình tượng Quan Thế Âm Bồ Tát là một hình tượng rất quen thuộc đối với cộng đồng phật tử nói riêng cũng như đồng bào Việt Nam nói chung. Dù ít dù nhiều hình tượng Quan Thế Âm Bồ Tát cũng đã có những ảnh hưởng nhất định trong đời sống của hầu hết đa số người dân Việt Nam. Vậy Bồ Tát Quan Thế Âm là ai?

Xét về tên gọi, đây là vị Bồ Tát có hạnh huyện quán xét những âm thanh của chúng sinh để tuỳ duyên cứu độ. Vậy nên, nếu gọi đúng ngôn ngữ Phật học thì là Quán Thế Âm Bồ Tát, nhưng ở góc độ văn hoá, tên gọi Quan Thế Âm đã trở nên quen thuộc và được đại đa số quần chúng nhân dân tiếp nhận, nên bài viết sử dụng từ Quan hay cho từ Quán. Xét về cuộc đời tu hành cũng như hạnh nguyện của Ngài, đã được đề cập rất nhiều qua các bản Kinh như: Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Phẩm Phổ Môn thứ 25, Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa, Kinh Ngũ Bách Danh,… Cụ thể trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa phẩm Phổ Môn thứ 25, đã được đức Phật lý giải vì sao vị Bồ Tát này có tên là Quan Thế Âm.

Phẩm này, đương cơ là Bồ Tát Vô Tận Ý, muốn hiểu do nhân gì, duyên gì mà tên là Quan Thế Âm. Thì đức Phật mới trả lời nhân và duyên cho Bồ Tát Vô Tận Ý, cụ thể như sau: “Thiện nam tử ! Nếu có vô lượng trăm nghìn muôn ức chúng sinh chịu các khổ não, nghe Quan Thế Âm Bồ tát này, một lòng xưng danh. Quan Thế Âm Bồ tát tức thời xem xét tiếng tăm kia, đều đặng giải thoát”[1].

Như đoạn trích dẫn, vậy nguyên nhân có danh hiệu Quan Thế Âm, là do có vô lượng trăm nghìn muôn ức chúng sinh chịu các khổ não, mà hễ nghe danh hiệu Quan Thế Âm, một lòng xưng danh, thì Quan Thế Âm tức thời xem xét tiếng kêu cầu cứu, và giúp cho giải thoát khổ ách cho nên có hiệu là Quan Thế Âm.

Theo tư tưởng kinh Pháp Hoa của Hòa Thượng Chơn Thiện, trang 166-167, thì Quan Thế Âm hay Vô Tận ý là biểu tượng có ý nghĩa: “Quan Thế Âm là hiểu rõ, nghe tiếng nói của cuộc đời, tiếng nói vô ngã, vô thường và khổ đau, liễu ngộ ba pháp ấy thì hành giả có điều kiện lìa xa tham ái và chấp trước 5 uẩn và thoát ly hết thảy khổ đau. Tất cả hiện hữu cùng âm thanh, đều có tiếng nói thực tướng của chúng: Tiếng nói vô ngã, tiếng nói duyên sinh.[2]”

Về hạnh nguyện của Bồ Tát Quan Thế Âm được thế hiện rất rõ trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa ở mục 1 – 2 – 3, nếu người bị nước lớn làm trôi xưng danh hiệu Bồ Tát này liền đặng chỗ cạn, nếu có người bị hại mà xưng hiệu thời dao gậy của người cầm liền gãy từng khúc, người có tội gông cùm, gặp kẻ oán tặc, hoặc lòng nhiều dâm dục…mà xưng hiệu Quan Thế Âm liền thoát nạn, thậm chí cầu con trai, gái đều như ý nguyện.

Tiếp theo mục 4, trang 539, xưng hiệu và lễ lạy được công đức lớn, ngang bằng công đức thọ trì sáu mươi hai ức hằng sa Bồ tát, trọn đời cúng dường tứ sự  thức ăn, y phục, giường nằm, thuốc men. Qua đây ta nhận thấy việc thọ trì và lễ lạy danh hiệu Quan Thế Âm chẳng thể nghĩ bàn.

Có thể nói, danh hiệu Bồ tát Quan Thế Âm được thế hiện trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, không chỉ là hình thức tín ngưỡng, tụng niệm, xưng danh hiệu hay lễ lạy, cầu xin mà còn là sự tu tập trong nội tâm của mỗi người để liễu ngộ, hay lắng nghe được tiếng nói của Vô Thường, Vô Ngã, Duyên Sinh của vạn pháp, từ đó chấm dứt khổ đau, đạt đến an vui. Đó mới là sự cứu độ rốt ráo của Bồ Tát Quan Âm. Tuy nhiên, ngày nay, tín ngưỡng Quan Thế Âm được phổ cập sâu rộng trong quần chúng, về phần hình thức là xưng hiệu, cũng như lễ lạy, tuy nhiên vấn đề tu trì vẫn nằm ở phần sự, thiêng về hình thức, và đầy yếu tố tín ngưỡng. Tức luôn tiếp xúc với phần tụng đọc văn tự thô của văn bản, hoặc lạy ngũ bách danh… đa phần chỉ muốn cầu xin Bồ Tát Quan Thế Âm đáp ứng tham muốn của chính mình. Như cầu hết bệnh, hết khổ, cầu con, cầu hết nợ, cầu giàu có, cầu hết bệnh ung thư….Vấn đề này cũng như liều thuốc an thân, chỉ có giá trị an tâm tạm thời. Nhưng ý nghĩa cốt lõi về phần lý bên trong, tức mỗi người cần quán sâu danh hiệu để tiến đến tự thân xả ái, xả tham, xả trói buộc để đạt đến giải thoát thành Phật vẫn chưa được chú trọng.

Hình tượng Bồ tát Quan Thế Âm trong đời sống tâm linh người Việt

Tín ngưỡng thờ Quan Âm đã xuất hiện trên đất nước ta vào khoảng thế kỷ thứ nhất, thông qua các lái buôn từ Ấn Độ truyền đến đất Giao Châu. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Lang trong cuốn Việt Nam Phật giáo sử luận có đề cập đến việc các thương buôn người Ấn trên đường buôn bán đã mang theo hình tượng Phật Nhiên Đăng và Phật Quan Âm để thờ cúng, cầu mong sự bình an, may mắn trong suốt chuyến đi. Và cũng do thế, nên người Việt đã tiếp thu tín ngưỡng Bồ Tát Quan Thế Âm từ những thương buôn đó. Đến bất cứ vùng nào, Bồ tát Quán Thế Âm cũng được thể hiện thông qua sự kết hợp thêm những tính chất của các vị thần linh bản địa. Thực tế, tín ngưỡng Bồ Tát Quán Thế Âm là một hình thức pha trộn những nét đặc trưng giữa Phật giáo và các tín ngưỡng, tôn giáo thịnh hành trong thời gian này.

Việt Nam với truyền thống văn hoá, đề cao người phụ nữ, tôn vinh người mẹ của người Việt cổ đã tiếp nhận hình tượng Bồ tát Quan Thế Âm là một người nữ, ví như người mẹ hiền đầy lòng từ bi.

Hình ảnh đó không chỉ được xưng tụng lễ lạy trong các ngồi chùa hay tại tư gia của phật tử, mà còn xuất hiện trong ca dao Việt Nam.

“Cha già là Phật Thích Ca

Mẹ già như thể Phật Bà Quan Âm

Nhớ ngày xá tội vong nhân

Lên chùa lễ Phật, đền ơn sinh thành”.

Hình ảnh đức Phật, đức Bồ Tát được ví như cha như mẹ, cho thấy hình ảnh đức Bồ Tát hay đức Phật đã trở nên gần gũi đi vào đời sống văn hoá người Việt. Thông qua đó, mỗi con người Việt sẽ dần thấm nhuần gương từ bi đức hạnh của các Ngài để sống yêu thương, hiếu hạnh hơn. Bên cạnh đó, những câu chuyện về hạnh từ bi, nhẫn nhục trong truyện dân gian như Quan Âm Thị kính, Quan Âm Diệu Thiện đã trở thành những giai thoại bất hủ để người ta nhắc đến công hạnh của Bồ Tát Quan Thế Âm trong nhận thức của người Việt.

“Tinh thông nghìn mắt nghìn tay,

Cũng trong một điểm linh đài hóa ra.

Rằng trong cõi nước Nam ta,

Bể Nam có đức Phật Bà Quan Âm”.

Phải chăng con mắt là đối tượng của nhận thức cũng là trí tuệ, bàn tay là biểu tượng của hành động cũng là từ bi. Trí tuệ đi đôi với từ bi đó chính là triết lý sâu xa của nhà Phật. Một người có từ bi nhưng không có trí tuệ thì tình thương đó sẽ đưa tới sự dính mắc trói buộc, gây ra đau khổ cho mình và người. Cho nên, trí tuệ tức chân lý chính là điều mà Phật giáo luôn đề cao hơn hết. Qua đây, chúng ta cũng thể thấy được sự tài tình của người dân Việt khi đưa triết lý nhà Phật vào truyện dân gian một cách rất khéo léo, và đầy tính uyên thâm. Từ đó, hình ảnh nghìn mắt nghìn tay đã trở thành biểu tượng Bồ Tát Quan Thế Âm vô cùng độc đáo và sâu sắc mang đậm chất triết lý nhà Phật. Phải chăng, trí tuệ (ngàn mắt) đó chính là sự quan sát nhiều phương, nhiều góc đó, nhiều khía cạnh, là sự bao quát, khách quan nhưng cũng cần ti mỉ sâu sắc từng pháp, từng đối tượng để dùng vô số cách (ngàn bàn tay) để giúp đỡ tuỳ từng hoàn cảnh, nỗi khổ khác nhau.

Hay trong truyện Quan Âm Thị Kính, bằng cốt truyện độc đáo, và ý thơ rất sâu sắc đã truyền tải được cốt lõi triết lý nhà Phật vào một tác phẩm mang đậm chất văn hoá người Việt. Hình ảnh nàng Thị Kính nghe lời cha mẹ, lấy chồng, để báo hiếu song thân, nhưng rồi chịu nỗi hàm oan, khiến cha mẹ trở nên mất mặt, lại chồng chất khổ đau. Triết lý vô thường, khổ được lồng ghép một cách tài tình, không ai chắc chắn được bất kì một điều gì, một cuộc hôn nhân tưởng chừng như viên mãn, hạnh phúc, chỉ vì một ý niệm thôi đã trở thành bi kịch. Hay như, ý niệm kết hôn để báo hiếu song thân, nhưng rốt cuộc lại chẳng phải là việc làm rốt ráo mà không khéo lại tiềm ẩn nhiều nguy cơ trở thành bất hiếu, làm phiền làm khổ song thân. Sự việc Thị Kính chọn xuất gia, một lần nữa thể hiện nhân sinh quan, triết lý nhà Phật một cách sâu sắc trong truyện, đó chính là tu tập, giác ngộ chân lý giải thoát, mới là đại báo hiếu. Việc mà cách đây hơn hai ngàn năm Thái tử Tất Đạt Đa đã từng làm.

Hay như việc chàng Kính Tâm nhẫn nhục, chịu bao lời dèm pha phí báng của người đời, để nuôi con, để được ở lại trong chùa, gần gũi Tam Bảo để tu tập, đâu chỉ đơn giản là thể hiện đức tính nhẫn nhục của nhà Phật thôi. Mà theo người viết, đây chính là một sự đề cao chân lý, một sự tôn vinh thành quả giác ngộ giải thoát. Mục tiêu tu tập giác ngộ, chân lý mới là cao cả là trên hết đối với người con Phật, cho nên thị phị tai tiếng, hay những nỗi hàm oan kia chẳng là gì có đối với một người lấy sự tu tập giác ngộ giải thoát làm kim chỉ nam, do thế mà đức nhẫn nhục tự nhiên thành tựu. Và khi thành Phật Bà rồi, thì mọi thứ trở nên sáng tỏ, chẳng cần lời lẽ ngôn từ phân minh.

Qua đó, chúng ta có thể thấy rằng, con người Việt, đã thật nhuần nhuyễn khi đưa chân lý nhà Phật, ẩn ghép trong các câu chuyện, những hình thức tín ngưỡng dân gian, chèo kịch thơ ca,… và hình ảnh Bồ Tát Quan Thế Âm trong hai câu chuyện Quan Âm Diệu Thiện và Quan Âm Nam Hải đã là minh chứng hùng hồn cho việc đưa triết lý nhà Phật, cụ thể là hạnh tu tập của Bồ Tát Quan Thế Âm vào trong đời sống văn hóa. Bên cạnh đó, những bức tượng phù điêu về Quan Âm ở chùa Hương Tích, hay tượng nghìn mắt nghìn tay ở một số ngôi chùa cổ như Bái Đính ở Ninh Bình, chùa Phước Tường ở Sài Gòn,… cũng đã góp phần lưu trữ những di sản về điêu khắc và hội hoạ cho dân tộc Việt Nam.

Tóm lại, hình ảnh Bồ Tát Quán Thế Âm từ rất lâu đã len lỏi, ngấm ngầm, cắm rễ rất sâu trong đời sống văn hóa, tâm linh, tình cảm của người Việt. Ngài đã thật sự đi vào lòng người và đã được nhân dân ta tạc nên bởi những thiên truyện cổ tích, những truyền thuyết dân gian, những tuồng chèo hát bội, những áng thơ ca bất hủ. Cùng với niềm tín ngưỡng này mà từ xưa đến nay đã có biết bao bàn tay nghệ nhân tài hoa đã tạc nên những bức phù điêu, những tranh tượng tuyệt tác về Ngài. Mà trên hết, những tác phẩm nghệ thuật đó luôn chuyển tải những hạnh nguyện từ bi bác ái, đức hiếu sinh, hạnh nhẫn nhục, khả năng lắng nghe và trái đồng cảm. Chính đức hạnh cao quý đó của Ngài đã đúc kết nên một triết lý sống mãi với thời gian và cũng là chuẩn mực đạo đức của người dân Việt.

HẠNH TÂM

***

Tài liệu tham khảo
1. Bài thuyết trình nhóm C, 07/04/2021, Hình tượng Bồ Tát Quan Thế Âm trong văn hoá người Việt.
2. HT Thích Chơn Thiện, 2013, Tư tưởng Kinh Pháp Hoa, Nxb Phương Đông, tr. 166-167.
3. Lệ Như – Thích Trung Hậu, 2000, Ca dao tục ngữ Phật giáo Việt Nam, NXB Tôn giáo,
4. Nguyễn Lang, 1992, Việt Nam Phật giáo sử luận, tập 1, NXB Lá Bối,
5. Thích Nữ Tâm Tú, 28/01/2012, Bồ Tát Quan Thế Âm trong văn hoá người Việt, https://thuvienhoasen.org/a14326/bo-tat-quan-the-am-trong-van-hoa-viet-nam-thich-nu-tam-tu
6. Thích Trí Tịnh dịch, 2008, Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Nxb Tôn giáo, Hà nội, Quyển thứ bảy, Phẩm Quan Thế Âm Bồ-tát Phổ môn, thứ hai mươi lăm. tr.536.
7. Thiều Chửu, 2002, Giải thích truyện Quan Âm Thị Kính, NXB Đà Nẵng,
8. Viên Trí, 2003, Khái niệm Bồ tát Quán Thế Âm, NXB Hà Nội

Chú thích
[1] Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, 2008, Thích Trí Tịnh dịch, Nxb Tôn giáo, Hà nội, Quyển thứ bảy, Phẩm Quan Thế Âm Bồ-tát Phổ môn, thứ hai mươi lăm. tr.536.
[2] HT Thích Chơn Thiện, 2013, Tư tưởng Kinh Pháp Hoa, Nxb Phương Đông, tr. 166-167.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Bài viết cùng chuyên mục:

Kiến trúc chùa Huế
Chùa Việt, Kiến trúc-Mỹ thuật, Nghiên cứu

Với lối kiến trúc đặc trưng nhưng vẫn nằm trong dòng chảy kiến trúc đặc trưng của những ngôi chùa Việt, chùa Huế thực sự đã tạo ra một dấu ấn đậm nét đối với khách thập phương. Với nét đặc trưng đó những ngôi chùa xứ Huế không chỉ góp phần làm phong phú cho...

Nét đẹp Chư Tăng trong mùa An cư Kiết hạ
Nghiên cứu, Văn hóa

Chúng ta sẽ cảm nhận được nét đẹp tuyệt vời, một nghệ thuật siêu việt của cái thiêng liêng được toát ra từ sâu thẳm trong tâm hồn của chư Tăng, Ni. Nét đẹp đó, được phát ra từ nội tại của những con người mang những hoài bảo, những lý tưởng hướng thiện và...

Nguồn Gốc Và Ý Nghĩa Của Chiếc Áo Cà Sa
Nghiên cứu, Văn hóa

Gốc tiếng Phạn của chữ cà-sa là kasaya. Nhưng thật sự chữ kasaya trong tiếng Phạn không có nghĩa là áo mà có nghĩa là bạc màu, cáu cặn hay hư hoại. Sách tiếng Hán dịch chữ này là đạm (màu nhạt), trọc hay trược (đục, dơ bẩn, ô nhiễm, rác bẩn), hoặc còn dịch là hoại sắc, bất chính sắc, hư nát, dính bẩn…Tóm lại chiếc áo cà-sa của người xuất gia tu Phật, của hàng tỳ kheo,…tượng trưng cho những gì nghèo nàn,...

Chùa Kim Cang trong mối quan hệ với dòng thiền Liễu Quán ở Tây Nam bộ
Kiến trúc-Mỹ thuật, Lịch sử, Nghiên cứu

Tóm tắt: Bài nghiên cứu tập trung vào hai nội dung chính, thứ nhất, tìm hiểu khái quát về lịch sử dòng thiền Liễu Quán mang đậm dấu ấn văn hóa Việt Nam; thứ hai, đề cập lịch sử hình thành chùa Kim Cang. Đây là ngôi chùa cổ, có nhiều đóng góp trong quá trình...

Đức Phật nhà văn hóa lớn của nhân loại
Lịch sử, Nghiên cứu, Sự kiện, Văn hóa

Đức Phật được Liên Hiệp Quốc tôn vinh là nhà văn hóa lớn của nhân loại của 25 thế kỷ qua, hẳn là cuộc đời hoằng hóa và hệ thống giáo lý của Ngài đã cống hiến cho nhân loại nhiều đóng góp quan trọng và ý nghĩa. Nhà Phật học H.W. Schumann đã phát biểu về Đức Phật trong tác phẩm thời danh của Ông, nhan đề Đức Phật lịch sử (The Historical Buddha) rằng: “Rất hiếm nhân vật trong lịch sử tư tưởng nhân...

Về văn bản Sự ly dung thông
Lịch sử, Nghiên cứu, Văn hóa

Thiền sư Minh Châu Hương Hải (1628-1715) là một tác gia văn học Phật Giáo thời Hậu Lê. Ngữ lục cho biết sư biên soạn, biên dịch được 20 tác phẩm. Hầu hết các tác phẩm này đều viết theo hai thể chữ hán và Nôm, vừa dịch giải vừa biên soạn.  Trong số sách dịch...

Đóng góp của thiền phái Liễu Quán trong việc khẳng định chủ quyền của người Việt trên vùng đất phương Nam
Lịch sử, Nghiên cứu

Tóm tắt: Từ khi xuất hiện cho đến khi tổ Thiệt Diệu Liễu Quán viên tịch, dòng thiền Liễu Quán được thắp sáng và lan tỏa chánh pháp bởi các đệ tử và các pháp tôn. Trong các thế kỉ XVII – đầu thế kỉ XIX, Thiền phái Liễu Quán ra đời, phát triển và mở...

Tục Bầu Hậu Phật qua một số văn bia ở Thanh Hóa
Lịch sử, Nghiên cứu, Văn hóa

DẪN NHẬP Bầu Hậu Phật, lập Hậu Phật là hoạt động văn hóa trong sinh hoạt tín ngưỡng Phật giáo ở làng xã nước ta trước đây. Người gửi hậu Phật có thể là do hoàn cảnh, nhu cầu và mục đích khác nhau, nhưng tựu trung, hoạt động này phản ánh tâm linh, tư...

Phổ hệ truyền thừa thiền phái Liễu Quán tại Khánh Hoà
Lịch sử, Nghiên cứu

Thiền phái Liễu Quán, một trong năm thiền phái của dòng thiền Lâm Tế có sự ảnh hưởng lớn ở nước ta. Trong dòng chảy lịch sử truyền thừa Thiền phái Lâm Tế tại Việt Nam, Liễu Quán tuy ra đời muộn nhưng là dòng thiền có phạm vi rộng khắp bởi tính bản địa....

Hành trình Phật giáo du nhập vào Trung Quốc thông qua Con đường tơ lụa
Lịch sử, Nghiên cứu

BƯỚC ĐƯỜNG TÂY CHINH VÀ LỘ TRÌNH KHAI THÔNG THƯƠNG MẠI – VĂN HÓA Trung Quốc là nước đầu tiên tìm ra cách trồng dâu nuôi tằm, lấy kén ươm tơ, dệt lụa sớm nhất trên thế giới cổ đại. Tơ lụa thời đó được dành riêng cho vua chúa và hàng quý tộc, sau...

Thiền sư Nguyên Thiều cầu nối cho sự giao lưu Phật giáo Trung-Việt thế kỷ XVII-XVIII
Lịch sử, Nghiên cứu

Tóm tắt: Giữa thế kỷ XVIII, Thiền sư Nguyên Thiều thuộc thiền phái Lâm Tế đời thứ 33, từ Quảng Đông chấn tích đến Đàng Trong truyền đạo. Dưới uy đức và đạo hạnh của Ngài cùng sự hộ trì của chính quyền chúa Nguyễn, Phật giáo Đàng Trong đã từng bước khởi sắc và...

Tính dân gian trong Phật giáo ở Thừa Thiên Huế
Nghiên cứu, Văn hóa

DẪN NHẬP Đối với người Việt, Phật giáo đóng vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần, có quá trình gắn bó và phát triển lâu dài trong lịch sử dân tộc. Trong quá trình định cư của cư dân Việt trên vùng đất được mệnh danh là “Ô châu ác địa”, “lam sơn...

Nguyên Nhân Phân Phái Phật Giáo
Lịch sử, Nghiên cứu

Mọi tư tưởng, triết lý, quan điểm hay học thuyết của một đấng giáo chủ nào, sau khi trải qua những giai đoạn truyền thừa, đều có một vài sự thay đổi để thích ứng với các giai đoạn đó. Vì thế, cách chuyển tải nội dung tư tưởng hay cách lý giải về chúng đương nhiên sẽ có những sự thay đổi, phát triển, thậm chí có những...

Điển cố Phật giáo trong sáng tác của Nguyễn Du
Lịch sử, Nghiên cứu, Văn hóa

Tóm tắt: Trong các sáng tác của đại thi hào Nguyễn Du, Phật giáo để lại dấu ấn sâu đậm. Một trong những dấu ấn đó là sự xuất hiện thường xuyên với vai trò quan trọng của lớp từ ngữ điển cố Phật giáo trong các tác phẩm của ông. Bài viết hướng đến nhận...

Nguồn càng sâu – Dòng càng dài
Danh Tăng, Lịch sử, Nghiên cứu

Tác giả bài viết: TT. Thích Tâm Hạnh* Tóm tắt: Tổ sư Liễu Quán ở tổ trên nhánh cây, ăn rong “sột soạt” mà thiền cơ dĩnh ngộ, xuất kệ lập nên thiền phái, đời đời nối thạnh. Từ xưa đến nay, bậc Tổ đức nào miên mật công phu, chứng ngộ, bảo nhậm rồi sáng...

Anāthapiṇḍika (Tu Đà Cấp Cô Độc): Cuộc đời và sự đóng góp cho Phật giáo
Lịch sử, Nghiên cứu

Tóm tắt: Đạo Phật ra đời không ngoài mục đích ban cho chúng sanh niềm an lạc và hạnh phúc. Nhưng để tồn tại, chúng đệ tử cần biết giữ gìn và thực hiện theo lời dạy của Ngài. Trong số đệ tử của Đức Phật thời bấy giờ có một vị Ưu-bà-tắc được mệnh danh...