Cùng đọc lại một trích đoạn hồi ký của Hòa thượng Thích Trí Quang viết về Bồ-tát Thích Quảng Đức và sự kiện “vô tiền khoáng hậu” – ngọn lửa Bồ-tát Quảng Đức chấn động địa cầu năm 1963.

“Thân người khó được”, đó là lời dạy toàn bộ Phật giáo. Chỉ trong Phật giáo Đại thừa mới nói đến sự tự thiêu. Nói ít nhưng trang trọng là  Đặc biệt cấm đi và ở những nơi nguy hiểm, tai nạn, nhưng cũng nói đến sự tự thiêu. Cả hai xuất xứ trên đây đều nói tự thiêu là khổ hạnh. Khổ hạnh này xuất từ ý thức và tâm nguyện có hai đặc thái: xót xa Phật pháp điêu đứng và xót thương quần chúng đau khổ. Khổ hạnh tự thiêu tuyệt đối phải là không phải tự sát. Khổ hạnh tự thiêu cũng không phải chỉ tự đốt thân thể, mà phụ thuộc việc này còn có những sự tự đốt một phần thân thể. Sự tự đốt một phần thân thể là vì muốn tự thử nghiệm nội lực, thử chịu khổ hạnh.

Phía người ngoài thì không ai được yêu cầu hay khuyến khích sự tự thiêu, được chăng chỉ có sự không trở ngại mà thôi. Chỉ có vị thầy truyền thọ Bồ-tát giới mới có thể có lúc nói đến sự tự thiêu một phần thân thể để xét nghiệm người xin thọ Bồ-tát giới có thể hay không thể có cái chí nguyện dũng mãnh. Không thể có thì vị thầy phải đào luyện cho họ có thể có cái chí nguyện ấy mới truyền thọ Bồ-tát giới. Tự thiêu một phần hay toàn thân thể, như vậy, là xuất từ nguyện lực, một trong những sức mạnh mà Phật giáo nói đến…

Hòa thượng Thích Trí Quang nói về "Ngọn lửa Quảng Đức" ảnh 1

Trong ngọn lửa nóng, Ngài vẫn bình thản, siêu thoát… – Ảnh tư liệu của AP

Nay nói về ngài Quảng Đức.

Chính trong những ngày quyết liệt nhất mà tôi nhận được thư của Ngài. Thư viết trên miếng giấy nhỏ, dĩ nhiên để dễ mang đi cho kín đáo. Thư do một ký giả người Việt làm cho một hãng thông tấn ngoại quốc cẩn trọng đưa tận tay tôi. Thư viết chữ nghiêm trang. Rằng đạo pháp trong cơn nguy khốn mà tôi tuổi già sức mọn, không làm gì được. Nên tôi xin học Đức Dược Vương, nguyện thiêu thân mình để cầu cho đạo pháp trường tồn. Ngưỡng mong liệt vị trưởng thượng tôn túc từ bi hứa khả, và quyết định cho lúc nào thực hiện. Xét đây là việc trọng đại nên tôi không dám quyết định. Một cuộc họp được mở ra khẩn cấp, với sự hiện diện của ngài Hội chủ, các thầy Trí Thủ, Thiện Siêu, Thiện Minh và tôi.

Ai cũng xúc động nhưng không quyết định gì, chỉ giao cho tôi xét kỹ nên chấp nhận ý nguyện của Ngài hay không, chấp nhận thì nên thực hiện vào lúc nào, dĩ nhiên là ở Sài Gòn. Được giao như vậy, nhưng tôi trang trọng cất giữ trong người bức thư của Ngài mà chưa quyết định gì, kể cả việc phúc đáp cho Ngài. Thế rồi trong lúc Từ Ðàm bị bao vây dữ dằn thì tin Ngài tự thiêu được ông Đằng mật báo liền cho tôi. Liền hôm sau ông Diệm mời Phật giáo thương thuyết. Sự tự thiêu của Ngài như vậy là cái mốc của giai đoạn mới trong cuộc vận động 1963.

Trước đây tôi không quen biết với Ngài, chỉ gặp một lần khi Ngài trụ trì chùa Phước Hòa, biết Ngài chuyên tâm trì tụng và lễ bái Pháp hoa. Giai đoạn trước khi Ngài tự thiêu tôi cũng chỉ biết mỗi một bức thư nói trên. Sau này mới biết, trước khi tự thiêu, Ngài chuẩn bị một cách chân thành, bình dị và kín đáo. Vẫn trì tụng lễ bái Pháp hoa hàng ngày. Vẫn sinh hoạt bình thường. Tế nhị lắm mới thấy Ngài có vẻ như người sắp đi xa. Quan trọng nhất là di chúc của Ngài. Một vị tân Tỷ-kheo gần Ngài mà đến hôm Ngài sắp tự thiêu mới biết được ý nguyện và bản di chúc ấy.

Bản di chúc ấy bình dị, chân thành, quan trọng nhất là ý thức chứa đựng bên trong. Chính ý thức này chứa đựng tâm nguyện Bồ-tát của Ngài. Không oán trách đến cả ông Diệm, Ngài chỉ nói tự đốt thân mình để cầu cho ông sáng suốt… Ngoài di chúc, Ngài còn một tấm ảnh và một quả tim. Về tấm ảnh, một ký giả chụp được lúc ngọn lửa bùng lên gần khắp người Ngài rồi, còn lại chỉ có một bên vai, gần một nửa trên đầu, trán cũng đã có lửa, chỉ mặt còn nguyên. Chính trong lúc như vậy mà nét mặt Ngài hoàn toàn bình thản, siêu thoát, không một nét nhăn hay một chút ráng sức. Bức ảnh này được giải thưởng quốc tế. Lại nghe nói lửa bùng lên hoàn toàn mà Ngài vẫn an tọa. Cho đến lửa tắt, một tấm hình khác cho thấy Ngài ngồi như pho tượng đồng đen. Sau đó một lúc Ngài mới gật đầu xuống như thể cúi chào Tăng Ni Phật tử, rồi nhẹ nhàng bật ngửa người ra. Ngài tự thiêu mấy hôm rồi tôi mới vào Sài Gòn. Tình trạng khi Ngài tự thiêu, nghe nói cực kỳ bi tráng, cho đến nay vẫn là không tiền khoáng hậu.

Về đám tang của Ngài, tôi sẽ nói đến trong chương 30 (*). Nay hãy nói đến sự kiện quan trọng nhất là quả tim của Ngài, “Quả tim Quảng Ðức”. Việc hỏa thiêu nhục thân của Ngài là do thầy Thiện Hòa chủ trì. Thiêu rồi lấy ra, trong đống tro tàn còn một khối thịt mà vị trí cho biết đó là quả tim. Thầy Thiện Hòa cho vào lò thiêu lại cũng vẫn không cháy. Lại thiêu nữa nhưng xăng hết. Bấy giờ rất đông ký giả hiện diện. Họ chạy kiếm xăng giúp. Bấy giờ chỉ họ mới đi lại được dễ dàng. Họ kiếm được mấy can xăng super, đem thiêu kỹ, nhưng lấy ra vẫn không cháy. Việc này làm cho tôi tin, xưa, ngài La Thập sau khi hỏa thiêu cái lưỡi vẫn còn. Nhưng ở đây mọi thắc mắc dị nghị hoàn toàn không có được nữa. Vì đây là việc mà trên dưới 50 ký giả, đa số là ký giả quốc tế, không những cũng chứng kiến mà còn dự vào.

Về quả tim này tôi vẫn nói đến vào gần cuối bản tự ghi này. Ở đây chỉ nói khi hỏa thiêu Ngài rồi, tôi thảo để ngài Hội chủ ký một thông bạch. Cuối thông bạch ấy tôi viết “Cầu nguyện vị nhục thân Bồ-tát gia hộ cho cuộc vận động của Phật giáo được thành tựu”. Và niệm “Nam-mô Đại hùng Đại lực Quảng Ðức Bồ-tát”; hồng danh Bồ-tát Quảng Ðức khởi đầu từ đó. Hồng danh ấy, và Bồ-tát Quảng Ðức, cho đến nay chính những người duy vật cũng không thể không công nhận. Một trong những sự bất diệt của cuộc vận động 1963 là sản xuất một vị Bồ-tát.

Sự tự thiêu của Bồ-tát Quảng Ðức ngay khi mới xảy ra đã làm cho ông Diệm rụng rời. Rồi mấy giờ sau, cả thế giới, nhất là ở Mỹ, ngọn lửa tự thiêu của Ngài rực lên trên máy truyền hình, đốt cháy tan tành hình ảnh ông Diệm và chế độ của ông. Ngọn lửa Quảng Ðức chung đúc và làm sáng lên cái khí thế cao độ mà ông Diệm không còn giữ được gì về thái độ và chính sách của ông.

Dân tộc Việt Nam có lắm vĩ nhân. Nhưng Bồ-tát Quảng Ðức là vĩ nhân mà siêu nhân.

Tỷ-kheo Thích Trí Quang
(Trích Hồi ký chưa xuất bản của Tỷ-kheo Thích Trí Quang,
bản riêng Mai Lan Lệ Ấn, Phật đường Khuông Việt công bố)

Bồ-tát Thích Quảng Đức là một nhân vật lịch sử, đã cống hiến rất lớn vào sự nghiệp phụng sự đạo pháp và dân tộc, làm rạng danh Phật giáo Việt Nam và dân tộc Việt Nam.

Sự kiện Bồ-tát Thích Quảng Đức phát nguyện vị pháp thiêu thân là một sự kiện lớn, gây chấn động thế giới, đánh thức lương tri toàn nhân loại. Ngài là một Phật tử Việt Nam, đứng trước cảnh đạo pháp lâm nguy, đất nước ly loạn, đã tỏ rõ một động thái hết sức xót xa nhưng đầy hào hùng sáng suốt của người con Phật: Vị pháp thiêu thân nhằm phản đối chính sách đàn áp bạo tàn của thể chế độc tài Ngô Đình Diệm, kêu gọi sự hiểu biết, thái độ tôn trọng tự do tín ngưỡng, tinh thần hòa hợp đoàn kết dân tộc và lòng yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Ngài đã xả thân vì đạo pháp và dân tộc Việt Nam vốn mến chuộng công lý, tự do và hòa bình. Ngọn lửa tự thiêu của Bồ-tát Thích Quảng Đức đã thắp sáng hàng triệu con tim Việt Nam, đánh thức lương tri toàn nhân loại và đi vào lịch sử: “Ngàn năm mãi lưu tim Bồ-tát”.

Hòa thượng Thích Minh Châu (Trích “Diễn từ khai mạc Hội thảo Bồ-tát Quảng Đức vị pháp thiêu thân”)

“Ngọn lửa Quảng Ðức đã thắp sáng thời đại chúng ta, một thời đại chiến tranh, hận thù đang bao trùm lên thân phận con người (mà) tâm tư thì chứa những âu lo, buồn chán, nghi kỵ, sợ sệt và mất niềm tin!

Cách 9 ngày sau ngày tự thiêu, 20-6-1963 nhục thể Hòa thượng Quảng Ðức được rước từ chùa Xá Lợi đi theo đường Trần Quốc Toản về An dưỡng địa ở Phú Lâm để làm lễ hỏa thiêu. Chính quyền nhà Ngô sợ làn sóng người đưa tang nên đã hạn chế chỉ cho phép 200 Tăng Ni tham dự và buộc phải đi bằng xe hơi. Suốt dọc hai bên lề đường dài hàng cây số, các Phật tử đứng đông nghẹt để chờ chiêm bái kim quan một vị cao tăng đã tự thiêu thân thể để bảo vệ Chánh pháp.

Ngọn lửa “thiêu” với sức nóng hàng ngàn độ đã không đốt cháy được trái tim kim cương bất hoại của vị Bồ-tát “vị pháp thiêu thân”.

Hòa thượng Thích Đức Nhuận (Trích “Ánh đuốc Quảng Đức”)

Bùng cháy! Ngọn lửa ngất trời! Không thể nào tả xiết nỗi bàng hoàng của tất cả Tăng Ni và những người đứng xung quanh! Lệ rơi! Tiếng khóc vang lên!

Lập tức, tôi yêu cầu hai mươi vị Tăng Ni ra nằm chặn ở bốn đầu đường để xe cứu hỏa không thể vào nơi thiêu của Hòa thượng Quảng Đức. Biết rằng trong lúc diễn ra cuộc tự thiêu này, có cả Simon Michaud, đại diện Hãng thông tấn AFP của Pháp; Malcolm Browne, đại diện AP của Mỹ và Neil Sheehan, đại diện UPI, đều chứng kiến tận mắt và xe của Đại tướng Mỹ Hawkins cũng tới chỗ hỏa thiêu này.

Sau 30 phút, thi hài của Hòa thượng Quảng Đức được rước về chùa Xá Lợi trên một lá cờ Phật giáo. Tới cổng chùa, ông Mai Thọ Truyền nằm lăn trên đất dưới thi hài của Hòa thượng từ cổng tới cửa nhà giảng. Rồi những làn sóng người bốn phương tràn tới chùa Xá Lợi để kính viếng một Bồ-tát đã thiêu thân. Đài phát thanh trong nước và khắp thế giới đều đưa tin vụ tự thiêu này.

Tin này đã làm rung chuyển lòng người trên khắp năm châu bốn biển, đã làm cho cả một chế độ gia đình trị và kỳ thị tôn giáo của ông Diệm phải lung lay. Vì thế, ông Diệm đã thúc giục hai bên, Ủy ban Liên bộ và Ủy ban Liên phái, sớm ngồi hội nghị và cùng ký bản thông cáo chung.

Cũng chính nhờ công đức hy sinh cao cả của Hòa thượng Quảng Đức mà ông Diệm ra lệnh phải giải tỏa tất cả các chùa. Sự thật chính phủ ông Ngô Đình Diệm ký thông cáo chung với Phật giáo chỉ là một kế hoãn binh để tạm thời xoa dịu khí thế của Phật giáo đương lên, được mọi người trong nước và ngoài nước tích cực ủng hộ về mặt ảnh hưởng và công luận.

Hòa thượng Thích Đức Nghiệp (Trích “Bồ-tát Quảng Đức tự thiêu”)

Sự kiện vị pháp thiêu thân của Bồ-tát Quảng Đức là một biểu trưng tâm linh bất diệt, cần phải được phân tích dưới nhiều góc độ khoa học, lịch sử, tôn giáo, để các thế hệ kế thừa ngày nay được học tập và nhận thức rõ ràng về ý nghĩa hành động vị pháp thiêu thân ấy, vốn là động cơ, là sức mạnh của sự tập hợp đoàn kết, làm nên đại cuộc cho đạo pháp và dân tộc.

Lê Mạnh Thát (Trích “Đề dẫn Hội thảo Bồ-tát Quảng Đức vị pháp thiêu thân”)

(*) Cấu trúc chương theo hồi ký của tác giả – BTV, bài đã được đăng trên chuyên đề “50 năm Bồ-tát Quảng Đức vị pháp thiêu thân” và Pháp nạn 1963 của Báo Giác Ngộ.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Bài viết cùng chuyên mục:

Trách Nhiệm Xã Hội Của Người Cư Sĩ Trong Thời Đại Mới
Nghiên cứu, Văn hóa - Xã hội

Khi tôn giáo bước vào “guồng quay” của kinh tế thị trường, ranh giới giữa sự hoằng pháp và thương mại hóa bỗng trở nên mong manh hơn bao giờ hết. Đứng trước thực trạng nhiều ngôi chùa dần biến thành các “không gian dịch vụ tâm linh”, những nhận định xã hội học của...

Tư tưởng Thiền học trong một số tác phẩm thơ văn của Vua Lê Thánh Tông
Nghiên cứu, Văn hóa - Xã hội

Trong thơ văn Lê Thánh Tông, Thiền không phải là sự lánh đời đi tìm hư vô, mà là sự an nhiên trong tâm hồn ngay giữa lòng cuộc đời thực tại. Lê Thánh Tông (1460-1497) là vị vua thứ tư của triều Hậu Lê, kể từ vua Lê Thái Tổ (1428-1433), Lê Thái Tông (1434-1442),...

Khi chiếc áo tu trở thành “thẻ nhận diện” trên MXH
Điểm nhìn

Từ góc nhìn pháp lý, hiện tượng giả danh tu sĩ có thể là một khoảng trống cần được nghiên cứu thêm trong quản lý tôn giáo. Nhưng từ góc nhìn xã hội, vấn đề sâu hơn nằm ở nhận thức của cộng đồng. Những ngày gần đây, mạng xã hội xôn xao trước sự xuất...

Tiểu Sử Đức Cố Đại Lão Hoà Thượng Huý Thượng Tâm Hạ Ấn – Đạo Hiệu Vĩnh Thừa Khai Sơn Chùa Châu Lâm Huế (1895 – 1976)
Danh Tăng

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật! Kính bạch Chư tôn Hòa thượng Chứng Kính bạch Chư tôn Hòa thượng, Chư Thượng tọa Đại đức Tăng Kính thưa quý vị khách quý Kính thưa toàn thể Phật tử các giới. Kính thưa quý liệt vị! Hôm nay ngày 13 tháng Giêng năm Bính...

Thiền sư Thanh Đàm (1786-1848): Hành trạng và trước tác
Danh Tăng

Thiền sư Thanh Đàm là một vị danh tăng Việt Nam thời Nguyễn thế kỷ XIX. 1. Hành trạng và sự nghiệp Trong nhiều công trình Phật giáo sử Việt Nam trước đây đều ghi không rõ tên tuổi, năm sinh năm mất và hành trạng ngài Thanh Đàm, chỉ riêng Nguyễn Lang trong Việt Nam...

Tham khảo ý nghĩa tên gọi ‘Tháng Chạp’
Nghiên cứu, Văn hóa - Xã hội

Trong tâm thức và ngôn ngữ Việt, cách gọi “tháng Chạp” (tháng Mười hai âm lịch) đã trở nên thân thuộc. Nhưng ẩn sau hai âm tiết ấy là một hành trình dài của ngữ âm, văn hóa và tư duy thẩm mỹ, từ các kinh điển Trung Hoa thâm sâu, thấm sâu vào đời sống...

Tổng quan lịch sử Phật giáo và Hồi giáo: Bản sắc tâm linh “con đường tơ lụa”
Lịch sử, Nghiên cứu

Hai truyền thống tôn giáo, Phật giáo và Hồi giáo, ra đời ở những thời đại khác nhau, tại những địa điểm địa lý khác nhau và giữa những người có nền văn hóa, hoàn cảnh và lịch sử đa dạng. Tuy nhiên, khi so sánh các đặc điểm văn hóa xã hội của nguồn...

Tự viện – Đối tượng thờ cúng – Nghi lễ Phật giáo thời Trần
Lịch sử, Nghiên cứu

Có được những thành quả trên một mặt bởi sự nỗ lực của đội ngũ tăng sĩ, sự chuộng Phật đạo của tín đồ – người dân, nhưng có một điểm không thể không kể đến đó là vai trò của vương triều Trần. I. Đặt vấn đề Dưới Thời Trần, trên nền tảng của Phật...

Theo dấu chân Phật: Từ “An lạc từng bước chân” đến Walk For Peace!
Điểm nhìn

Buổi sáng, khi thành phố còn chưa kịp tỉnh hẳn sau những dòng tin đêm, những bước chân đã lặng lẽ rời khỏi lề đường. Không còi xe tiễn đưa. Không loa phóng thanh. Không cờ xí. Không biểu ngữ. Chỉ có tiếng vải áo khẽ chạm gió, nhịp thở đều, và mặt đất hiện...

Lược sử về quốc sư Minh Không và chùa Lý Quốc Sư
Lịch sử, Nghiên cứu

Thân thế quốc sư Minh Không Từ vị quốc sư đầu tiên của nhà Lý là thiền sư Vạn Hạnh, nhiều triều vua sau của nhà Lý đều có lệ phong các vị sư lỗi lạc có công phò vua giúp nước làm quốc sư. Trong số các vị quốc sư đó, có quốc sư...

Tư tưởng khoan dung Phật giáo góp phần bồi dưỡng phẩm chất đạo đức con người Việt Nam
Nghiên cứu, Văn hóa - Xã hội

Vận dụng khoan dung trong tư tưởng triết học Phật giáo vào thực tiễn giúp định hướng tư duy một cách khoa học, qua đó hình thành lối sống nhân ái, tôn trọng và cảm thông. I. Đặt vấn đề Tư tưởng khoan dung là một giá trị đạo đức phổ quát được thể hiện...

Dấu ấn Ni trưởng Huỳnh Liên – Đạo pháp đồng hành cùng dân tộc
Lịch sử, Nghiên cứu, Văn hóa - Xã hội

Trong thời đại ngày nay, tấm gương Ni trưởng Huỳnh Liên vẫn còn nguyên giá trị thời sự. Tư tưởng nhập thế, phụng sự nhân sinh của Người tiếp tục soi đường cho Ni giới Hệ phái Khất sĩ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. I. Dẫn nhập Tọa đàm khoa...

Nội hàm biểu tượng trong nghệ thuật tạo hình trang trí chùa Huế
Kiến trúc-Mỹ thuật, Nghiên cứu

1. Mở đầu Mỗi nền văn hóa, mỗi địa phương trong suốt tiến trình hình thành và phát triển đều tạo ra những cái riêng, chính đó là chữ kí của từng cộng đồng. Phật giáo Việt Nam trên hành trình du nhập đến nay đã xây dựng nên những nét đặc trưng riêng biệt không...

Phật pháp bất ly thế gian pháp
Điểm nhìn

Những ngày này, khi miền Trung – Tây Nguyên oằn mình trong mưa lũ, hình ảnh những tâm thư trên Zalo, Facebook của chư Tăng Ni kêu gọi hướng về đồng bào vùng thiên tai lan tỏa khắp nơi. Sự chung tay của các tổ chức Phật giáo từ trung ương đến địa phương, của...

Khúc cua lịch sử trong giao thoa Phật giáo và Hồi giáo ở Nam Á
Lịch sử, Nghiên cứu

Dẫn nhập “Nếu ai đem lòng thanh tịnh mà nhìn thế gian, thì thế gian ấy cũng trở nên thanh tịnh”. (Kinh Tạp A-hàm) Khi ta tĩnh lặng ngồi xuống, thở sâu giữa một ngày bận rộn, và để tâm mình thong dong qua những miền đất của quá khứ như Ấn Độ, Afghanistan, ta...

Bình đẳng giới trong Phật giáo Đại Việt thế kỷ XI–XII: nhìn từ trường hợp Ni sư Diệu Nhân
Nghiên cứu, Văn hóa - Xã hội

Trường hợp Ni sư Diệu Nhân buộc chúng ta nhìn lại Phật giáo Đại Việt thời Lý với một chiều kích thường bị bỏ sót: bình đẳng giới không chỉ là lý tưởng đạo đức, mà đã từng là một cơ chế vận hành nội bộ của Thiền tông. Ni sư Diệu Nhân “đời thứ 17” trong...

Ads Blocker Image Powered by Code Help Pro

Đã phát hiện trình chặn quảng cáo!!!

Chúng tôi đã phát hiện thấy bạn đang sử dụng tiện ích mở rộng để chặn quảng cáo. Vui lòng hỗ trợ chúng tôi bằng cách vô hiệu hóa các trình chặn quảng cáo này.