Có một giáo sư (người thế tục) thường được thỉnh giảng cho Học viện Phật giáo Việt Nam ở Hà Nội, vị này tuy giảng dạy về môn tôn giáo học, nhưng có cái nhìn sai lệch về Phật giáo. Khi trao đổi với hòa thượng Thích Thái Hòa, được hòa thượng đề nghị nói lên cảm nhận của mình, ông đã phát biểu rằng: Phật giáo sao lung tung quá! Đến chùa thì có người thắp hương, kẻ thì đốt vàng mã như một mớ hổ lốn. Sự tổ chức trong Phật giáo luộm thuộm quá…

Hòa thượng cười và trả lời: “Cám ơn giáo sư đã nói thẳng. Giáo sư đã nói đúng. Nhưng cái đúng đó, may lắm là chỉ đúng với giáo sư thôi, chứ không đúng với Phật giáo.” Sau đó, hòa thượng giảng giải Phật giáo có 5 cấp:

1- Cấp thứ nhất là Phật giáo đại chúng:

Là đúng với cái nhìn của giáo sư. Bởi vì chùa là của chúng sinh, Phật của chúng sinh. Chúng sinh mỗi người mỗi nghiệp, mỗi người một hoàn cảnh, mỗi người một quả báo…và khi đến chùa, họ đem cái quả báo của họ để tu. Cho nên trở thành lung tung là phải! Quần chúng Phật tử đến chùa có rất nhiều hạng người, đến chùa với những tâm cảm khác nhau. Người thì cầu cho cha mẹ, kẻ cầu cho vợ cho chồng…Người thì cầu tài, kẻ thì cầu lộc, cầu phúc, người thì cầu tự v.v… Đó là chuyện bình thường. Mà chỉ có Phật giáo mới chấp nhận được. Vì sao? Phật giáo quá lớn cho nên dung chứa tất cả. Cho nên Phật giáo đại chúng là như thế. Nhưng thành phần này chẳng phải lớp ít học đâu, cả lớp có học như giáo sư, cũng là Phật giáo đại chúng. Giáo sư biết gì? Ta từ đâu tới? Vì sao tới đây? Tới đây làm gì? Chết rồi đi về đâu? Giáo sư biết không? Cho nên giáo sư cũng phải tới chùa dưới cái dạng của giáo sư, người bình dân người ta tới chùa trong cái điều kiện của người bình dân. Đó là chuyện muôn đời. Đó là Phật giáo đại chúng.

2- Thứ hai là Phật giáo học thuật.

Phật giáo học thuật là như thế nào? Từ nơi Phật giáo đại chúng, bắt đầu mới chọn ra phân loại thượng căn, trung căn và hạ căn. Rồi bắt đầu hướng dẫn, giáo dục. Hàng hạ căn thì hướng dẫn thế nào, trung căn hướng dẫn thế nào, thượng căn hướng dẫn thế nào…để đào tào con người.

3- Thứ ba Phật giáo tổ chức.

Muốn tổ chức thì phải đào tạo con người trước. Không có con người thì lấy gì mà tổ chức. Cho nên từ học thuật, Phật giáo đào tạo được một con người có tầm nhìn xuyên suốt Phật học ở chiều cao, chiều sâu và chiều rộng. Qua đó chỉ rõ: thực tiễn của Phật giáo thế nào, cái siêu việt của Phật giáo nằm ở đâu. Đâu là phương tiện và đâu là cứu cánh; đâu là quyền trí, đâu là thực trí; đâu là quyền pháp, đâu là thực pháp…Rồi mới đưa đến Phật giáo tổ chức. Mà nói rằng một tổ chức hoàn hảo, thì không có tổ chức nào hoàn hảo bằng Phật giáo. Vì sao? Vì đã nói đến tổ chức, thì phải nói đến luật. Phật giáo có cả một tạng (kho) Luật. Có tôn giáo nào có cả một tạng luật? Có tổ chức nào của xã hội có tạng luật? Phật giáo có hẳn một tạng luật, mà luật đó hoàn hảo cho cả hai giới tính nam và nữ. Và phát triển cả hai giới tính đó đi đến chỗ hoàn hảo: từ vị trí phàm phu đi đến địa vị Phật. Như vậy mà giáo sư lại nói Phật giáo tổ chức thua các tôn giáo khác à? Đã biết tổ chức là luật, không luật lấy gì mà tổ chức? Điển hình một ví dụ: Phật quy định trong Luật: ngày mai bố tát, tụng giới, thì hôm nay phải phát lồ sám hối. Phải dự bị yết-ma. Mọi chuyện phải làm thủ tục trước, mai mới bố tát. Bây giờ xã hội cũng bắt chước Phật giáo cả đó thôi. Muốn tổ chức đại hội chính thức thì phải có đại hội trù bị. Đại hội trù bị chính là dự bị yết-ma, dự bị bố tát của Phật giáo. Muốn an cư kiết hạ, thì phải có dự bị an cư. Thế thì, sao dám nói Phật giáo không có tổ chức chặt chẽ được? Một người muốn làm thầy, muốn làm tì kheo thì phải thế nào? Có bao nhiêu vị tác pháp, mà tác pháp gì để trao giới Cụ túc? Để thành toàn tư cách cho một vị tì kheo, tì kheo ni? Đều được Luật qui định chi tiết cả. Thế nên nói rằng Phật giáo là một tổ chức chưa hoàn hảo, thua các tôn giáo khác, là một nghiên cứu chưa kỹ. Học hành mà không nghiên cứu kỹ những gì trước khi mình phát biểu, thì cái học đó chỉ là nửa vời, cái tri thức nửa vời. Rất nguy hiểm.

4- Phật giáo tổ chức rồi, mới đến Phật giáo thực nghiệm,

Là Phật giáo khoa học, Phật giáo “Trí giả nội chứng”. Tức là những gì người trí chấp nhận nghiên cứu, thực tập có kết quả, mới công bố. Nếu chỉ có Phật giáo học thuật, Phật giáo tổ chức thôi, mà không có Phật giáo thực nghiệm, nghĩa là nếu không có các tì kheo, tì kheo ni chứng được quả Dự lưu, Nhất Lai, Bất lai, A la hán thì lấy gì để chứng minh giáo pháp của đức Thế Tôn là thiết thực ngay trong cuộc sống này?

5- Cấp cuối cùng là Phật giáo chứng ngộ.

Chúng ta tu như vầy, đâu phải ai cũng chứng ngộ cả đâu! Có những người là đương cơ, những người kết duyên, những người ngoại hộ…Cho nên mới nhìn một cách hời hợt, có cảm giác Phật giáo như lung tung, nhưng mà chẳng lung tung chút nào hết!

Thích Thái Hòa

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Bài viết cùng chuyên mục:

Tìm hiểu tư tưởng bình đẳng của Phật giáo qua tác phẩm Khoá Hư Lục
Luận, Phật học

DẪN NHẬP Trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, vào thời Trần, vua Trần Thái Tông đã tỏ ngộ lý thiền, thắp lên ngọn đuốc chân lý, soi đường cho người hữu duyên cùng tiến lên trên con đường giác ngộ, giải thoát. Trong số các trước tác của ngài, tác phẩm Khóa hư lục chứa đựng...

Duyên khởi và ý nghĩa của Kiết hạ An cư
Kiến thức, Luật, Phật học

Theo luật Tứ phần[1] duyên khởi của Ðức Phật qui định mùa an cư của chúng tỳ kheo xảy ra khi Ngài đang trú tại Xá Vệ, trong vườn của Ông Cấp Cô Ðộc. Nguyên do của việc chế định này là bởi vì sự than phiền của các người cư sĩ đối với nhóm 6...

Lịch Sử Kết Tập Kinh Luật Lần Thứ Năm Và Sáu
Luật, Phật học

LỊCH SỬ KẾT TẬP PHÁP TẠNG LẦN THỨ V Sau lần kết tập pháp tạng thứ tư đúng 2015 năm thì đến lần kết tập pháp tạng thứ 5. Theo sự ghi chép của Pàli giáo sử chương 6 và sử Miến Điện; thì vào năm 1871, quốc vương Miến Điện là Mẫn Đông (Mindon – tại vị từ 1853 – 1878) đứng ra triệu tập 2400 vị cao tăng, cử hành kết...

Lịch Sử Kết Tập Kinh Luật Lần Thứ Tư
Luật, Phật học

I– Thuyết thứ nhất Sau Phật Niết bàn khoảng 400 năm, tại nước Kiền Đà La (Gandhàra) có vua Ca Nị Sắc Ca (Kanishca) trị vì, đất nước phú cường, danh vang khắp nơi ,các nước xung quanh đều quy phục. Trong những lúc rảnh rỗi việc triều đình, nhà vua thường đọc kinh Phật. Mỗi ngày vua thỉnh một vị cao tăng vào cung thuyết pháp. Nhưng vua thấy quan...

Lịch Sử Kết Tập Kinh Luật Lần Thứ Ba
Luật, Phật học

Sau Phật Niết bàn 100 năm thì Đại hội kết tập Pháp Tạng lần thứ hai diễn ra, và sau lần kết tập lần thứ 2 đúng 118 năm lại diễn ra cuộc kết tập lần thứ 3. Như vậy lần kết tập này xảy ra sau Phật Niết bàn 218 năm, tức là 325 năm trước Tây lịch. Đại hội lần này do Hoàng đế A Dục (Asoka) đề xướng và bảo trợ . Vua...

Lịch Sử Kết Tập Kinh Luật Lần Thứ Hai
Luật, Phật học

Sau khi Phật Niết bàn độ 100 năm, các Tỳ kheo Bạt Kỳ ở Tỳ Xá Ly đề ra 10 điều phi pháp như sau: 1/ Tỳ kheo ăn muối gừng để dành qua đêm vẫn hợp pháp, 2/ Tỳ kheo ăn xong, nhận được thức ăn khác, dùng hai ngón tay cầm thức ăn để ăn vẫn hợp pháp, 3/ Tỳ kheo ăn xong, rời khỏi chỗ, rồi ngồi ăn lại vẫn hợp pháp, 4/ Tỳ kheo ăn xong, đi sang nơi...

Lịch Sử Kết Tập Kinh Luật Lần Thứ Nhất
Luật, Phật học

Không bao lâu sau khi Đức Thế Tôn nhập Niết bàn, tôn giả Đại Ca Diếp tập họp 500 vị đại Tỳ kheo tại giảng đường Trùng Các, bên dòng sông Di Hầu, thành Tỳ Xá Ly, để chuẩn bị kết tập kinh luật. Trong số 500 Tỳ kheo này, 499 vị đã đắc quả A La Hán, chỉ trừ tôn giả A Nan. Bấy giờ, tôn giả Đại Ca Diếp nói với các vị Tỳ kheo:...

Tu tập tịnh giới và pháp môn Tịnh Độ
Luận, Phật học

Thầy Thích Thái Hòa giảng tại trường Hạ chùa Vạn-đức, Thủ-đức, Phật lịch 2564  I. Im lặng 1- Pháp môn Tịnh độ được thiết lập trên nền tảng của Tịnh giới Chúng ta muốn công cụ Tịnh độ thành công nên phải đặt nền tảng của Tịnh giới. Bởi vì, thế giới Tịnh độ của Phật...

Căn Bản Giới Bồ Tát Của Phật Giáo Tây Tạng
Luật, Phật học

CĂN BẢN GIỚI BỒ TÁT CỦA PHẬT GIÁO TÂY TẠNG Nguyên tác: Root Bodhisattva Vows modified, March 2002, from Berzin, Alexander. Taking the Kalachakra Initiation Chuyển ngữ: Tuệ Uyển – Thursday, March 05, 2015 Giới Thiệu Giới là một hình thức vi tế không thấy trong sự tương tục tinh thần, là thứ hình thành thái độ. Một cách đặc biệt, nó là một sự kềm chế khỏi “một hành...

Phổ Hiền nguyện qua cái nhìn Phật tử sơ cơ
Phật học

Phật tử tu học theo truyền thống Bắc tông thường tụng niệm mười Phổ Hiền hạnh nguyện trong mỗi khoá lễ. Hầu như ai cũng thuộc lòng, tụng như cháo chảy nhưng nhiều khi chỉ là đọc tụng theo quán tính, theo trí nhớ chứ ít khi tìm hiểu thấu đáo, hoặc là thật sự...

Hạnh nguyện của Đức Bồ tát Quán Thế Âm
Luận, Phật học

Hiện tướng bản thể vũ trụ là một trò chơi vừa có tính thực và bất thực, hay vừa có tính hòa âm và bất hòa âm. Nếu người biết được trò chơi này, là người nắm được thực tại trên mười đầu ngón tay; thì trái lại, kẻ không nắm được thực tại trên...

Tánh Khởi Luận: Lý thuyết phân phối trật tự trong Hoa Nghiêm Tông
Luận, Phật học

(I) Sự thành tựu tối thượng mà những vị đang đi trên con đường độc nhất tiến tới giác ngộ, là khả năng thành tựu tất cả từ hư vô. Họ khởi đầu bằng nỗ lực nghe và thấu hiểu mọi lời được nói ra. Họ nỗ lực để thấy hiểu mọi chiều hướng tác...

Bài Kinh Dài Về Tánh Không
Kinh, Phật học

BÀI KINH DÀI VỀ TÁNH KHÔNG Kinh Mahasunnata-sutta-sutta (dựa theo các bản tiếng Pháp của Môhan Wijayaratna và tiếng Anh của Thanissaro Bikkhu) Bản dịch Việt: Hoang Phong Tôi từng được nghe như thế này: Có lần Đấng Thế Tôn ngụ tại vùng của bộ tộc Thích-ca (Sakka) tại thành Ca-tì-la-vệ (Kapilavatthu) trong khu vườn Ni-câu-đà (Nigrodha). Vào buổi...

Quy Sơn Cảnh Sách Văn
Luật, Phật học

溈山大圓禪師警策文 Quy Sơn Cảnh Sách Văn (Bài Văn Cảnh Sách Của Ngài Quy Sơn) (Đề này còn viết “Qui sơn Đại viên thiền sư cảnh sách”, nghĩa: Bài văn Cảnh sách của Đại viên thiền sư ở núi Quy sơn.) (1) 夫業繫受身。未免形累。禀父母之遺體。假衆緣而共成。雖乃四大扶持。常相違背。 Phù nghiệp hệ thọ thân, vị miễn hình lụy. Bẩm phụ mẫu chi di thể, giả chúng duyên nhi cọng thành. Tuy nãi tứ đại phù trì, thường tương vị...

Chánh niệm phát huy khả năng nhận thức, điều tiết cảm xúc và làm chủ hành vi
Luận, Phật học

Chánh niệm viết đầy đủ trong tiếng Pali là “sammā-sati”, nghĩa là sự tâm niệm đúng đắn. Nó có nguồn gốc xuất phát từ tuyền thống thiền quán phương Đông, cụ thể là từ Phật giáo Nguyên thủy (Hart, 1987). Có mặt hơn 25 thế kỷ, thế nhưng chánh niệm mới được tiếp cận và...

Bài kinh về sự Chú Tâm Tỉnh Giác
Kinh, Phật học

BÀI KINH VỀ SỰ CHÚ TÂM TỈNH GIÁC Satipatthana Sutta (Majjhima Nikaya 10) HOANG PHONG chuyển ngữ Lời giới thiệu của người dịch Satipatthana Sutta là một bản kinh quan trọng làm nền tảng cho một phép thiền định chủ yếu trong Phật giáo là Vipassana, nghĩa từ chương là “Sự quán thấy chuyên biệt” hay “sâu sắc”, kinh sách Hán ngữ gọi là “Minh Tuệ” hay...