Ngạc nhiên là thái độ của một người thực sự yêu minh triết, vâng, không có một khởi đầu nào khác cho triết học ngoài nỗi ngạc nhiên” (Theaitetos, Platon)

Ngày 10.1.2026, tôi bước vào phòng hội thảo khoa học quốc gia nhân kỷ niệm 800 năm thành lập nhà Trần (1226 – 2026) tại chính Hoàng thành Thăng Long cũ (Hà Nội), sửng sốt và vui mừng khi ánh mắt đầu tiên của tôi gặp được gương mặt của chính tác giả viết về nhà Trần – những nghiên cứu toàn diện nhất (Trần Thái Tông toàn tập, Trần Nhân Tông toàn tập), mà trong khoảng hơn hai thập niên vừa qua tôi đã sử dụng cho công việc biên khảo của chính mình: Thầy Lê Mạnh Thát.

Bất ngờ thấy được Thầy đúng lúc trong thâm tâm tôi đầy cả ý nghĩ và hình ảnh của Thầy, mỗi lần gõ máy viết theo lời yêu cầu thiết tha của nhà báo trong Sài Gòn. Những ký ức của khoảng thời gian gần suốt bảy mươi năm từ thời trung học, trong đó hình ảnh của chú tiểu Trí Siêu, đệ tử của Đại lão Hòa thượng Thích Đôn Hậu ở chùa Linh Mụ còn cắp sách đến trường ùa về ngổn ngang, từ thuở “văn kỳ thanh” những huyền thoại truyền từ các ngôi chùa Huế về những tiểu tăng học giỏi, cho đến khi “kiến kỳ hình”…

Thấy Thầy Lê Mạnh Thát ngồi đó giữa những bậc thức giả học giả, tôi bất ngờ tưởng có duyên may sẽ được hầu chuyện với Thầy, để có thêm ý tưởng cho bài viết đăng trên giai phẩm xuân Người Đô Thị Tết Bính Ngọ, về bậc đại trí thức “Lê Mạnh Thát”. Nhưng thật vô duyên vì Thầy đã rời buổi hội thảo sớm. Thầy thường biến mất như thế. Bỏ lại tôi với nỗi loay hoay phải viết thế nào về người mà tu sĩ đồng thời Phạm Công Thiện đã trích dẫn là “thiền sư lỗi lạc” của lịch sử Việt Nam hiện đại – Lê Mạnh Thát.

GS-TS. Lê Mạnh Thát. Ảnh: Diệu Tường

Tôi loay hoay, thật thế, chính vì sự đầy, sự thành, sự tốt của một con người, làm sao viết hết, và nếu viết chỉ để ca tụng thì “cung ma chật hẹp quá”, trong lúc ấy “cửa Phật khôn xiết xuân” của thiền sư Trần Nhân Tông đang mở toang đón chào điều mới mẻ.

Có một cảm xúc đặc biệt rất người của con người trước điều mới mẻ, đó là nỗi ngạc nhiên như phản ứng trực cảm trước một hiện tượng bất ngờ, và tôi chọn nỗi ngạc nhiên rất chủ quan của mình để nói về Thầy Lê Mạnh Thát.

Thoạt tiên cuộc “văn kỳ thanh” – dễ chừng đã trót 70 năm – nghe tiếng chú tiểu Trí Siêu vốn là đệ tử của cố Đại lão Hòa thượng Thích Đôn Hậu ở chùa Linh Mụ (Huế) – đi học trường Quốc học mà học giỏi lạ thường, tiếng đồn từ các chùa vang khắp xứ Huế, nơi sự học đứng hàng đầu, tiếng đồn đến trường Đồng Khánh và giờ ra chơi tôi nghe các chị kể về chuyện chú tiểu học băng lớp và tôi, lúc ấy còn đang học tú tài bán phần, đã rất đỗi ngạc nhiên và tò mò, vì tôi cũng là đứa thích học, thích đọc và mơ về chuyện học.

Thoắt cái như trở bàn tay, chú tiểu đã băng lớp và thi tú tài năm 17 tuổi. Thầy Mạnh Thát về sau kể rằng thời ấy đi tu cực vô cùng, từ chùa Linh Mụ được ôn Báo Quốc (Đại lão Hòa thượng Thích Trí Thủ) cho về chùa Báo Quốc để đi học cho gần, khỏi phải qua đò, vừa tốn tiền đò vừa lạnh trong mùa mưa rét căm căm. Từ chùa Báo Quốc xong tú tài, Thầy được quý ôn cho đi học  Đại học Đà Lạt để lấy bằng cử nhân triết học (1962 – 1965).

Cuộc hội ngộ của GS-TS. Thái Kim Lan (thứ hai từ trái) với GS-TS. Lê Mạnh Thát (thứ ba từ trái) tại chùa Kim Sơn (Huế), khoảng năm 2004. Ảnh: Tư liệu tác giả
Cuộc hội ngộ của GS-TS. Thái Kim Lan (thứ hai từ trái) với GS-TS. Lê Mạnh Thát (thứ ba từ trái) tại chùa Kim Sơn (Huế), khoảng năm 2004. Ảnh: Tư liệu tác giả

Trong khoảng thời gian này xảy ra pháp nạn 1963. Đó là khoảng thời gian tôi gia nhập đoàn sinh viên Phật tử Huế và được nghe thêm về sự phát tâm dũng cảm của quý tăng ni trẻ tình nguyện theo gương ngài Quảng Đức vị pháp thiêu thân, trong đó có Thầy Trí Siêu. Phát tâm ấy làm rúng động quý ôn và quý ni sư trưởng lão đến rơi lệ.

Tuy nhiên, lập tức nguyện vọng này không được quý ôn chấp thuận và nghiêm ngặt cấm đoán. Thầy Trí Siêu và Thầy Tuệ Sỹ được quý ôn của các chùa, không những chùa Linh Mụ và chùa Báo Quốc, chùa Từ Đàm (Đại lão Hòa thượng Thích Thiện Siêu), Đại lão Hòa thượng Thích Trí Quang mà hầu hết các chùa và cả Giáo hội Phật giáo Thống Nhất sau 1963 cưng quý như những pháp báu của Phật giáo Việt Nam.

Nghe những tin ấy từ xa tôi lại hơn một lần ngạc nhiên thán phục. Trong mỗi sự ngạc nhiên luôn có cảm giác vui mừng, toại nguyện trước những hạnh phát bồ đề tâm dũng cảm của các tăng ni trẻ tuổi thời bấy giờ.

Đó đã là những giây phút làm cho tôi được thuyết phục và dấn thân hơn trong căn nhà chung Phật giáo. Bất ngờ cùng một năm, có nghĩa chưa một lần được diện kiến với Thầy Trí Siêu, thầy được học bổng sang Mỹ còn tôi rời Việt Nam đi du học (1965). Về sau ở Đức tôi nghe tin Thầy Trí Siêu đã nổi tiếng xuất sắc với luận án tiến sĩ triết học The Philosophy of Vasubandhu tại Đại học Wisconsin, Madison – Hoa Kỳ.

Trong luận án này Thích Trí Siêu nổi bật với sự lý giải chủ thuyết Duy thức của ngài Thế Thân (Vasubandhu) trên bình diện tri thức luận và duy tâm luận, chứng tỏ một trí tuệ sắc bén linh hoạt, một tư duy tỉnh thức và phê phán với tinh thần khoa học khách quan. Đồng thời luận án đã đưa ra phản biện lần đầu tiên, phát hiện sai lầm sử học về tiểu sử của ngài Thế Thân, cho rằng giả thuyết có hai ngài Thế Thân trong lịch sử triết học Đại thừa là không đứng vững.

Thiền sư Lê Mạnh Thát chia sẻ tại tọa đàm về thơ thiền Việt Nam trong dòng chảy văn hóa dân tộc, diễn ra ở Huế ngày 26.3.2023. Cùng tham dự có nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm (ngồi giữa hàng đầu) – nguyên  Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Trưởng ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương, nguyên Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thông tin. Ảnh: Bùi Ngọc Long

Từ nước Mỹ với luận án tiến sĩ The Philosophy of Vasubandhu, Thích Trí Siêu đã gây ấn tượng sâu đậm cho tôi với độ tư tưởng chín muồi thuyết phục nhất: tư duy phân tích và phản biện khi nghiên cứu các thành tựu khoa học, văn học, triết học… của các thời đại đi trước, mở đường đi vào đương đại và tương lai. Kinh ngạc khi được biết phân tích có tính cơ bản của triết học duy thức Phật giáo và bác bỏ dữ kiện lịch sử sai lạc về tác giả Thế Thân đến từ một vị sư trẻ tuổi Việt Nam. Thành tựu của nghiên cứu sâu sắc đã thuyết phục hội đồng chấm thi và trở thành niềm tự hào của Phật tử Huế. Chuyện Thầy Trí Siêu học giỏi đến bên Mỹ cũng phục được các chùa Huế kể cho đệ tử như một chuyện cổ tích đời nay.

Và ở phương trời Âu, nỗi kinh ngạc đã trở thành vị đậm của niềm vui tri thức. Tư duy phân tích và phản biện không phải mới lạ trong truyền thống triết học Phật giáo kể từ khi Phật Cồ Đàm tuyên bố “ta là nhà phân tích”, có thể nói Thích Trí Siêu đã vận dụng phương pháp luận phân tích, phản tư và kiểm chứng tài liệu, so sánh dữ liệu vào những nghiên cứu về sau trong tất cả các lĩnh vực, triết học, văn học, lịch sử Phật giáo nói riêng và Việt Nam nói chung.

Công trình nghiên cứu của Lê Mạnh Thát về sau đều đồ sộ và mang lại những cái nhìn mới về lịch sử Việt Nam, về kinh sách Phật giáo, về văn hóa và văn minh Việt Nam: Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Lục độ tập kinh và lịch sử khởi nguồn của dân tộc ta, Tự điển bách khoa Phật giáo Việt Nam, Toàn tập Minh Châu Hương Hải, Toàn tập Trần Thái Tông, Toàn tập Trần Nhân Tông, Toàn tập Toàn Nhật Quang Đài, Nghiên cứu về Mâu Tử (2 tập), Chân Đạo Chánh Thống, Lịch sử âm nhạc Phật giáo Việt Nam, Ngữ pháp tiếng Phạn…

Những công trình này đưa ra những khám phá về nguồn gốc dân tộc Việt Nam qua kinh sách Phật, điều chỉnh những sai sót của các sử gia chính thống, hệ thống hóa kinh sách thơ văn của các thiền sư Việt Nam… đều là những đóng góp lớn cho nền tư tưởng đương đại Việt Nam.

Bộ Lịch sử Phật giáo Việt Nam được GS-TS. Lê Mạnh Thát tái bản sau 24 năm, bổ sung nhiều nội dung mới.

Tin Thích Trí Siêu về nước để giúp Đại lão Hòa thượng Thích Minh Châu ở Đại học Vạn Hạnh (1974) sau khi hoàn thành luận án tiến sĩ ở Mỹ làm mọi người phấn khởi. Vạn Hạnh thời ấy với tập thể học giả, trí thức miền Nam, với Thích Nữ Trí Hải, Thích Tuệ Sỹ, Phạm Công Thiện, Phùng Thăng, Trần Xuân Kiêm, thế hệ trẻ thập niên 1970, sôi nổi, đầy năng lực sáng tạo và tôn trọng truyền thống… đã là đất dụng võ của những trí thức tầm cỡ.

Với quý ôn, hai thầy Tuệ Sỹ và Trí Siêu là báu vật của Phật giáo. Bên trời Tây trông về quê nhà, nỗi ngạc nhiên của tôi trở thành thao thức về một tương lai mới mẻ. Rồi bỗng – quá đỗi kinh ngạc, ba ngôi sao của vùng trời Phật giáo bị vào tù 1984: Trí Hải, Trí Siêu, Tuệ Sỹ.

Không thể tưởng tượng nỗi sự lo âu và thương quý của tất cả Phật tử đối với bản án tử hình năm 1988. Khi tôi trở về Huế trong thời gian ấy, nỗi ngạc nhiên của tôi theo với dòng nước mắt của quý ni sư trưởng lão ở Huế, thương quý Thầy và Cô bị tù đày. Không thể tưởng tượng nỗi quý sư bà ôm tôi khóc sướt mướt, chống gậy đi thăm nuôi người tử tù ở rừng sâu, thuở ấy vô cùng khó khăn. Vận động cứu trợ y tế cho các tù nhân trở nên khẩn thiết, vận động quốc tế can thiệp giảm án tử hình…

Từ xúc cảm kỳ diệu ấy tôi tham gia cuộc vận động quốc tế xin giảm án tử hình cho quý Thầy – Cô, kêu gọi từ thiện giúp đỡ bới xách cho tù nhân. (Về sau, một lần gặp Thầy Mạnh Thát với các cư sĩ Huế, hỏi chuyện trong tù và cái án tử hình, Thầy trả lời, mọi đi đứng nằm ngồi “Nhờ Phật và theo lời dạy của Phật không bỏ sót”, từng lời rõ ràng minh bạch mà âm vang huyền bí siêu nhiên như mãnh lực của viên kim cương bất hoại. Tôi về nghiền ngẫm câu nói ấy như một công án về Phật tính và bản lai diện mục Việt Nam).

Lần đầu tiên “kiến kỳ hình” sau gần 30 năm nghe tiếng, gặp Thầy Thích Trí Siêu, bấy giờ lấy lại tên Lê Mạnh Thát, bằng xương thịt, đó là thập niên 90, sau khi được thả tự do, tại Viện nghiên cứu Vạn Hạnh do Đại lão Hòa thượng Thích Minh Châu bảo lãnh. Tới thăm Thầy nơi phòng nghiên cứu dành riêng cho Thầy. Vào dịp ấy Thầy đang thu tập tài liệu về Minh Châu Hương Hải.

Trong phòng toàn sách là sách.

Ngạc nhiên giây phút gặp Thầy: có lạ chi mô! 

“Chị Kim Lan đó há”, như tuồng đã quen từ lâu.

Tôi dạ trước một vị Thầy vẫn còn tóc xanh để chỏm phất phơ như những chú tiểu nơi chùa Báo Quốc, trong bộ pyjama lam đơn giản, gương mặt trong veo của một tiểu đồng đi gánh tương ở chùa Báo Quốc, bình thường tương chao, bình thường thật bình thường, chỉ duy đôi mắt sâu trong và tiếng cười rất sảng khoái: một Phật tử chí thành – gọi là thiền sư lỗi lạc e chưa vừa; một “anh hùng dân tộc” – e chưa kiên cố bằng cái tâm bình thường vững như bàn thạch; một nhà bác học – e chưa bằng tâm bồ đề rộng khắp; một nhà trí thức – e chỉ là một nửa của sự phát tâm bồ đề. Nơi hình hài ấy, hình như mỗi thứ đều toát ra là “không phải thế”, để dành riêng rất ít, một thứ tự do, thong dong, không chấp nhặt.

Tôi sẽ ngạc nhiên biết mấy nếu tôi không ngạc nhiên khi nhìn, nghe, thấy, biết người ấy, hiện hữu tại đây và bây giờ, trong tất cả bình thường của thế gian.

Nỗi kinh ngạc của người vừa dụi mắt chợt thấy chân như trước mình!

Hòa thượng Thích Trí Siêu, tức Giáo sư Lê Mạnh Thát, sinh ngày 15.4.1944 tại làng Cu Hoan, xã Hải Thiện, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Ông là tiến sĩ triết học, được biết nhiều bởi những công trình nghiên cứu về lịch sử Phật giáo cũng như lịch sử Việt Nam. Một số các phát hiện mới của ông về lịch sử Việt Nam gây chấn động giới nghiên cứu sử. Trung tâm sách Kỷ lục Việt Nam công nhận ông là “Người viết sách về văn học và lịch sử Phật giáo nhiều nhất Việt Nam”. Ông thông thạo hơn 15 ngôn ngữ.

_____________________________

“Tôi không phải là người nghiên cứu lịch sử, tuy nhiên tôi đã đọc bộ Lịch sử Phật giáo Việt Nam và Lục độ tập kinh và lịch sử khởi nguồn của dân tộc ta của thiền sư Lê Mạnh Thát. Với cảm nhận của bản thân, tôi cho rằng những giả thiết mà thiền sư đặt ra là rất đáng trân trọng. Trước hết phải ghi nhận là thiền sư đã có một tinh thần dân tộc, luôn mong muốn làm sáng tỏ lịch sử nước nhà. Thiền sư đã cất công tìm tòi, dò sâu vào lịch sử, đọc những tài liệu, những công trình khoa học từ nhiều nguồn, nhiều quốc gia, nhất là trong các tàng kinh Phật. Đây là một cơ duyên mà không phải ai cũng có được. Trong bối cảnh mà nhiều nguồn tài liệu khác đã bị tiêu hủy, thì việc phát hiện những vấn đề lịch sử tiềm tàng trong kinh Phật là điều rất quý” – Nguyễn Khoa Điềm, Báo Thanh Niên, 14.3.2008.

Thái Kim Lan
Bài viết đăng trong tạp chí Người Đô Thị, số Đặc biệt Xuân Bính Ngọ 2026

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Bài viết cùng chuyên mục:

Trách Nhiệm Xã Hội Của Người Cư Sĩ Trong Thời Đại Mới
Nghiên cứu, Văn hóa - Xã hội

Khi tôn giáo bước vào “guồng quay” của kinh tế thị trường, ranh giới giữa sự hoằng pháp và thương mại hóa bỗng trở nên mong manh hơn bao giờ hết. Đứng trước thực trạng nhiều ngôi chùa dần biến thành các “không gian dịch vụ tâm linh”, những nhận định xã hội học của...

Tư tưởng Thiền học trong một số tác phẩm thơ văn của Vua Lê Thánh Tông
Nghiên cứu, Văn hóa - Xã hội

Trong thơ văn Lê Thánh Tông, Thiền không phải là sự lánh đời đi tìm hư vô, mà là sự an nhiên trong tâm hồn ngay giữa lòng cuộc đời thực tại. Lê Thánh Tông (1460-1497) là vị vua thứ tư của triều Hậu Lê, kể từ vua Lê Thái Tổ (1428-1433), Lê Thái Tông (1434-1442),...

Tham khảo ý nghĩa tên gọi ‘Tháng Chạp’
Nghiên cứu, Văn hóa - Xã hội

Trong tâm thức và ngôn ngữ Việt, cách gọi “tháng Chạp” (tháng Mười hai âm lịch) đã trở nên thân thuộc. Nhưng ẩn sau hai âm tiết ấy là một hành trình dài của ngữ âm, văn hóa và tư duy thẩm mỹ, từ các kinh điển Trung Hoa thâm sâu, thấm sâu vào đời sống...

Tổng quan lịch sử Phật giáo và Hồi giáo: Bản sắc tâm linh “con đường tơ lụa”
Lịch sử, Nghiên cứu

Hai truyền thống tôn giáo, Phật giáo và Hồi giáo, ra đời ở những thời đại khác nhau, tại những địa điểm địa lý khác nhau và giữa những người có nền văn hóa, hoàn cảnh và lịch sử đa dạng. Tuy nhiên, khi so sánh các đặc điểm văn hóa xã hội của nguồn...

Tự viện – Đối tượng thờ cúng – Nghi lễ Phật giáo thời Trần
Lịch sử, Nghiên cứu

Có được những thành quả trên một mặt bởi sự nỗ lực của đội ngũ tăng sĩ, sự chuộng Phật đạo của tín đồ – người dân, nhưng có một điểm không thể không kể đến đó là vai trò của vương triều Trần. I. Đặt vấn đề Dưới Thời Trần, trên nền tảng của Phật...

Lược sử về quốc sư Minh Không và chùa Lý Quốc Sư
Lịch sử, Nghiên cứu

Thân thế quốc sư Minh Không Từ vị quốc sư đầu tiên của nhà Lý là thiền sư Vạn Hạnh, nhiều triều vua sau của nhà Lý đều có lệ phong các vị sư lỗi lạc có công phò vua giúp nước làm quốc sư. Trong số các vị quốc sư đó, có quốc sư...

Tư tưởng khoan dung Phật giáo góp phần bồi dưỡng phẩm chất đạo đức con người Việt Nam
Nghiên cứu, Văn hóa - Xã hội

Vận dụng khoan dung trong tư tưởng triết học Phật giáo vào thực tiễn giúp định hướng tư duy một cách khoa học, qua đó hình thành lối sống nhân ái, tôn trọng và cảm thông. I. Đặt vấn đề Tư tưởng khoan dung là một giá trị đạo đức phổ quát được thể hiện...

Dấu ấn Ni trưởng Huỳnh Liên – Đạo pháp đồng hành cùng dân tộc
Lịch sử, Nghiên cứu, Văn hóa - Xã hội

Trong thời đại ngày nay, tấm gương Ni trưởng Huỳnh Liên vẫn còn nguyên giá trị thời sự. Tư tưởng nhập thế, phụng sự nhân sinh của Người tiếp tục soi đường cho Ni giới Hệ phái Khất sĩ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. I. Dẫn nhập Tọa đàm khoa...

Nội hàm biểu tượng trong nghệ thuật tạo hình trang trí chùa Huế
Kiến trúc-Mỹ thuật, Nghiên cứu

1. Mở đầu Mỗi nền văn hóa, mỗi địa phương trong suốt tiến trình hình thành và phát triển đều tạo ra những cái riêng, chính đó là chữ kí của từng cộng đồng. Phật giáo Việt Nam trên hành trình du nhập đến nay đã xây dựng nên những nét đặc trưng riêng biệt không...

Khúc cua lịch sử trong giao thoa Phật giáo và Hồi giáo ở Nam Á
Lịch sử, Nghiên cứu

Dẫn nhập “Nếu ai đem lòng thanh tịnh mà nhìn thế gian, thì thế gian ấy cũng trở nên thanh tịnh”. (Kinh Tạp A-hàm) Khi ta tĩnh lặng ngồi xuống, thở sâu giữa một ngày bận rộn, và để tâm mình thong dong qua những miền đất của quá khứ như Ấn Độ, Afghanistan, ta...

Bình đẳng giới trong Phật giáo Đại Việt thế kỷ XI–XII: nhìn từ trường hợp Ni sư Diệu Nhân
Nghiên cứu, Văn hóa - Xã hội

Trường hợp Ni sư Diệu Nhân buộc chúng ta nhìn lại Phật giáo Đại Việt thời Lý với một chiều kích thường bị bỏ sót: bình đẳng giới không chỉ là lý tưởng đạo đức, mà đã từng là một cơ chế vận hành nội bộ của Thiền tông. Ni sư Diệu Nhân “đời thứ 17” trong...

Những quả chuông quý thời Lê xứng đáng là bảo vật quốc gia
Nghiên cứu, Văn hóa - Xã hội

Chùa Phật ở Việt Nam xuất hiện hầu hết tại các địa phương, từ những ngôi quốc tự của triều đình, ngôi đại danh lam của Giáo hội Phật giáo, đến những ngôi chùa làng, mà ở mỗi ngôi chùa đó đều có ít nhất một quả hồng chung (chuông lớn). Do lâu ngày và...

Phật giáo Hà Nội trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, phát xít Nhật và đế quốc Mỹ
Lịch sử, Nghiên cứu

Ni giới Phật giáo nói chung và Ni giới Phật giáo Hà Nội nói riêng đã trở thành một trong những lực lượng tích cực tham gia lao động, sản xuất, trực tiếp hoặc gián tiếp kháng chiến chống các lực lượng ngoại bang xâm lược Việt Nam trong thế kỷ XIX, XX. 1. Mở...

Giá trị tư liệu văn bia chùa Sùng Phúc, Hải Phòng
Lịch sử, Nghiên cứu, Văn hóa - Xã hội

Nội dung văn bia ghi chép chi tiết về sự tham gia công đức của các vị công chúa, vương phi, quan lại dưới triều Lê – Trịnh, cũng như đóng góp tiền của công đức xây dựng một số hạng mục công trình. Tóm tắt: Văn bia chùa Sùng Phúc là nguồn tư liệu Hán...

20 điều yếu tắc tòng lâm của Thiền sư Bách Trượng Hoài Hải
Nghiên cứu, Văn hóa - Xã hội

20 điều yếu tắc tòng lâm của Thiền Sư Bách Trượng Hoài Hải: Kim chỉ nam cho Tăng Ni mọi thời đại Lời dẫn Trong lịch sử Thiền tông Trung Hoa, Thiền sư Bách Trượng Hoài Hải (百丈懷海, 720–814)[1] được tôn vinh là một bậc đại tổ, nổi tiếng không chỉ bởi hạnh tu mà còn bởi việc thiết lập...

Tổ sư Nguyên Thiều với Phật giáo Quảng Nam (cũ)
Lịch sử, Nghiên cứu, Văn hóa - Xã hội

Vùng đất Quảng Nam trong lịch sử không chỉ được biết đến là một địa phương quan trọng về kinh tế và chính trị của Đàng Trong mà còn là trung tâm giao thoa văn hóa – tôn giáo đặc sắc của miền Trung Việt Nam. Trước khi người Việt tiến vào khai phá, nơi...

Ads Blocker Image Powered by Code Help Pro

Đã phát hiện trình chặn quảng cáo!!!

Chúng tôi đã phát hiện thấy bạn đang sử dụng tiện ích mở rộng để chặn quảng cáo. Vui lòng hỗ trợ chúng tôi bằng cách vô hiệu hóa các trình chặn quảng cáo này.