
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
- Kính bạch Chư tôn Hòa thượng Chứng
- Kính bạch Chư tôn Hòa thượng, Chư Thượng tọa Đại đức Tăng
- Kính thưa quý vị khách quý
- Kính thưa toàn thể Phật tử các giới.
- Kính thưa quý liệt vị!
Hôm nay ngày 13 tháng Giêng năm Bính Ngọ – nhằm ngày 1 tháng 3 năm 2026, Lễ chính thức Tưởng Niệm 50 năm ngày Ta Bà ký tất, hoa mãn diêm phù, sanh tử băng tiêu, Nê – hoàn nhập diệu của Đức Cố Đại Lão Hoà Thượng huý Thượng Tâm hạ Ấn, Đạo hiệu Thích Vĩnh Thừa – Khai sơn chùa Châu Lâm – Huế.
Chúng con xin được thành kính cung tuyên tiểu sử của Đức Cố Đại Lão Hoà Thượng.
Nam mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật!
Tiểu sử Đức Cố Đại lão Hoà Thượng huý thượng Tâm hạ Ấn, Đạo hiệu Vĩnh Thừa Khai Sơn Chùa Châu Lâm – Huế (1895 – 1976)
1. Thân Thế
Cố Đại lão Hòa Thượng thế danh Nguyễn Hữu Ký, pháp danh Tâm Ấn, hiệu Vĩnh Thừa, sinh ngày 20 tháng 11 năm Ất Mùi, niên hiệu Thành Thái
(1895). Nguyên quán làng Đa Nghi, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Ngài đã chọn tỉnh Thừa Thiên làm nơi thọ mạng để một đời đạo tục dung thông!
Làng Lang Xá Bàu thác chất, sông Như Ý thao thao dòng Phật thủy, Đất Hương Thuỷ rực rỡ đạo vàng cao, Xứ Thuỷ Thanh rạng ngời vầng Chánh Pháp.
Thân phụ là cụ ông Nguyễn Hữu Tý, pháp danh Thanh Phong, hiệu Sung Dật. Thân mẫu là cụ bà Võ Thị Ngọ. Ngài được sinh trưởng trong gia đình hạnh đức thuần lương, nội ngoại Tổ Tiên thâm hiểu Phật đường. Trong dòng họ Ngài đã lưu xuất các bậc cao Tăng thạc Đức trong rừng thiền của Huế Đô trác tích như thiền sư pháp danh Thanh Thái, hiệu Phước Chỉ, thế danh Nguyễn Hữu Huấn – Trú Trì đời thứ ba Tổ Đình Tường Vân; Thiền sư pháp danh Thanh Vân, tự Tường Thoại, hiệu Tâm Thành, thế danh Nguyễn Hữu Chắc – Khai sơn chùa Từ Quang – Huế đều là chú ruột của ngài; Hòa thượng pháp danh Thanh Phước, tự Vĩnh Hựu, hiệu Tâm An, thế danh Hồ Vĩnh Hựu – Tăng cang Diệu Đế Quốc tự, trú trì chùa Từ Ân, trùng kiến chùa Thọ Đức – Huế là cậu ruột của Ngài.
2. Xuất gia tu học
Nhờ sẵn có hạt giống xuất trần từ nhiều kiếp, cho nên lúc tuổi trẻ thấy cuộc đời giả tạm, cửa không môn gắng chí tu hành, tuổi trung niên trông thế thái phù hư, đường chính đạo phát tâm tiến bước. Năm 15 tuổi (1909), Ngài đến Tổ Đình Tường Vân, đem râu tóc đoạn nghiệp trần ai, gặp đấng minh sư truyền trao kinh giáo mở lòng Bát Nhã, Ngài Phước Chỉ Cao Tăng là Đạo sư dìu dắt dạy dỗ.
Sau 14 năm nương theo thầy tu học, Đại lão Hoà Thượng Phước Chỉ viên tịch. Ngài được nương theo Hoà Thượng pháp danh Trừng Thanh, tự Hiền Lương, hiệu Tịnh Nhãn, đệ tứ Trú Trì Tổ Đình Tường Vân, là vị đại đệ tử của Đại lão Hoà Thượng Phước Chỉ làm thầy Bổn sư được phú Pháp danh Tâm Ấn, ban Vĩnh Thừa làm pháp hiệu khai tâm. Với bài phú pháp:
Tâm ấn viên minh ngộ đạo tiên
Tham thiền liễu đạt thấu chân nguyên
Niêm hoa phó nhữ Như Lai tạng
Tục diệm truyền đăng vạn cổ truyền.
Tạm dịch:
Tâm ấn sáng trong thấy đạo đầu
Tham thiền đạt đến cảnh thâm sâu
Đưa hoa giao giữ Như Lai tạng
Thắp sáng ngàn sau ngọn lửa mầu.
Năm Giáp Tý (1924) đến tuổi 30, Ngài mới đăng đàn thọ Cụ túc giới tại Đại Giới Đàn Từ Hiếu. Kể từ đó:
Chùa Tường Vân đồng chơn nhập đạo
Đất Thuận Hóa tỏ ngộ tánh không
Từ Hiếu đàn giới pháp thụ phong
Xây hạnh nguyện hoằng dương phổ độ.
Sau khi thọ đại giới không bao lâu, Hoà Thượng Bổn Sư lại viên tịch. Ngài vào y chỉ và cầu học với Đại Lão Hoà Thượng Huệ Pháp – Chùa Thiên Hưng – Huế Năm Đinh Mão (1927), Ngài vào Chùa Thập Tháp – Bình Định, tham học với Đại lão Hoà Thượng Phước Huệ, sau đó Ngài tiếp tục vào miền Nam để học với các vị Hoa Kiều nên Ngài rất thông thạo tiếng Quảng Đông.
3. Sự nghiệp hoằng hóa
Trong suốt cuộc đời tu học và hành đạo tuy theo nhu cầu Phật sự theo từng hoàn cảnh của các địa phương, Ngài luôn luôn thừa đương mọi Phật sự lợi Đạo ích đời. Từ đó, Ngài đã tiếp nối chí nguyện của các bậc tiền bối giữa chốn Tòng Lâm trong phong trào Chấn hưng Phật giáo của bậc thượng sĩ buổi đầu gửi vào chí nguyện xuất trần.
Năm Quý Dậu (1933), Ngài trở về Huế, đến ấp Cữ Sĩ, làng Dương Xuân lập
thảo am Pháp Uyển Châu Lâm để tham cứu tu niệm, nay là chùa Châu Lâm, phường Thuy Xuân, Thành phố Huế.
Ngày 3 tháng 10 năm Bảo Đại thứ 9 (1933), Ngài được Bộ Lễ cung cử vào đảm nhiệm Trú Trì chùa Bảo Lâm tại núi Đồi Voi, thôn Tư Cung, xã Tịnh Khê, tỉnh Quảng Ngãi.
Tháng 12 năm Bính Tý (1936), Ngài được cung cử là Trú Trì Quốc tự Thánh Duyên, thuộc núi Tuý Vân, thôn Tư Hiền, xã Vinh Hiền, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên.
Năm Canh Thìn Bảo Đại thứ 15 (1940), chùa Châu Lâm được vua Bảo Đại sắc phong là “Sắc tứ Châu Lâm tự”.
Năm Tân Tỵ (1941), Ngài được mời làm Tăng cang Diệu Đế Quốc tự. Năm Nhâm Ngọ (1942), Ngài được Sơn môn cung thỉnh vào ngôi vị Trú
Trì chùa Từ Đàm.
Với giới đức tinh nghiêm, là bậc mô phạm chốn rừng thiền, Ngài đã được cung thỉnh vào các ngôi vị như Yết ma, giáo thọ, tôn chứng trong Hội Đồng Thập Sư của rất nhiều Đại Giới đàn như:
- Đại Giới Đàn Đại Bi – Thanh Hóa năm Mậu Dần –
- Đại Giới Đàn Bảo Quốc – Huế năm
- Đại Giới Đàn Vạn Hạnh, tại Chùa Từ Hiếu – Huế năm
- Đại Giới Đàn Vĩnh Gia – Đà Nẵng năm
Năm Quý Mão (1963), giữa lúc Phật giáo gặp phải nguy nan, dưới triều Ngô đàn áp dã man, Ngài cùng với Chư Tôn Đại lão Hoa thượng trong Giáo hội tham gia phòng trào cương quyết đấu tranh, góp công lớn phá tan xiềng xích kỳ thị.
Đến lúc:
Phật Pháp đã nên cây rường cột
Sơn môn liền kế Tổ thừa đương
Trên dưới kính nhường, gần xa quy ngưỡng.
Vì vậy từ năm 1973, Ngài đã được cung thỉnh đảm nhận ngôi vị Trú Trì Tổ Đình Tường Vân và Tổ Đình Bảo Quốc cho đến ngày viên tịch.
Tuy bận rộn với nhiều Phật sự, Ngài vẫn thường xuyên mở lớp dạy Kinh Luật tại chùa Châu Lâm, tiếp tăng độ chúng, tục diệm truyền đăng, báo Phật ân Đức.
Suốt cuộc đời Ngài với:
- Xử kỷ thì Ngài: lấy thanh khí tịnh, dung kính sắc trang, quyết chí vãng sanh, chuyên tu tịnh nghiệp, tậm hoa ngày tháng, nương bóng Di Đà, tinh tấn sớm khuya, in đồ Cực Lạc. Lấy đó mà dũng tiến công phu, quảng bôi phước quả mà báo tứ trọng ân, độ tam đồ khố.
- Tiếp chúng thì Ngài: lấy Từ Bi bình đẳng làm mục đích, đem văn chương nghi lễ mà tiếp độ mọi người, không nề đạo tục, chẳng luận sang hèn, ai có lòng quy y hướng hóa cũng một niềm hỷ xã khuyên răn trì trai niệm Phật, tu phước phóng sinh, bỏ tà quy chánh, minh nhân quả, tín luân hồi, hàng phục trần lao, tu tròn đạo nghiệp.
Nhờ đó mà Ngài giáo dưỡng nên các bậc danh Tăng thạc Đức về sau trở thành những pháp khí Đại thừa góp phần xương minh ngôi nhà Chánh Pháp ở trong nước cũng như ở hải ngoại như Hoà Thượng Thiên Ân – người Việt Nam đầu tiên tốt nghiệp Tiến sĩ Văn học tại Nhật Bản và là vị Cao Tăng đầu tiên truyền bá Phật giáo Việt Nam vào đất Mỹ; Hoà Thượng Thiên Hoà – Chứng Minh Đạo sư Phật giáo miền cao nguyên Lâm Viên; Hoà Thượng Thiên Hỷ – Khai Sơn chùa Thiên Hỷ;
Hoa Thượng Hộ Nhẫn – Phó Chủ tịch Hội Đồng Trị Sự Giáo Hội Phật giáo Việt Nam, Khai sơn chùa Thiền Lâm – Huế; Hoà thượng Thích Phước Thành – Trưởng ban Kinh tế Từ thiện Xã Hội Ban Trị Sự Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam tỉnh Thừa Thiên Huế nhiệm kỳ 1992 – 1997.
Đệ tử xuất gia Tăng của Ngài gồm có 18 vị và chư Ni y chỉ ngũ giới gồm có 12 vị. Đa số đều là những vị giáo phẩm lãnh đạo Giáo hội qua các thời kỳ và đóng góp rất nhiều công đức trong việc hoằng dương chánh pháp, lợi lạc quần sanh. Với hàng ngàn đệ tử tại gia từ thành thị đến thôn quê đều trở về quy y thọ giáo với Ngài.
Ngài có tài xuất khẩu thành thơ, tùy theo hoàn cảnh đối tượng mà Ngài cảm tác rất nhiều thơ văn vừa trào phúng vừa mang nhiều ý nghĩa sâu sắc, nhắc nhở mọi người tinh tấn tu học Chánh pháp, cải hóa thân tâm, xây dựng cuộc sống đạo đức tốt đẹp.
Với thân giáo đường đường, đạo phong đĩnh đĩnh, tuệ nghiệp huy huy, âm thanh thiền vị, tinh thông nhạc cụ pháp khí, Ngài đã chọn việc hành trì nghi lễ, khoa nghỉ chẩn bạt, phổ độ chúng sanh, âm dương lưỡng lợi. Nhờ đó mà Ngài đã cảm hóa được nhiều người trở về quy ngưỡng Phật Pháp, chánh tín Tam Bảo.
Dù hoàn cảnh có đổi dời, xuân hạ thu đông bốn mùa thay áo nhưng với đức tánh khiêm cung, hỷ xả từ hoà, dù ở cương vị nào Cố Đại lão Hoà Thượng luôn luôn thể hiện tinh thần phụng sự Tam Bảo, tự tại thong dong, tuy duyên hóa độ chúng sanh, thừa thành Phật sự, Đạo Đời hai nẻo, một thể vuông tròn, chan hòa pháp giới, đèn Thiền tỏ rạng, Tổ ấn trùng quang, đạo vàng sáng lạng.
Treo gươm kiệm phúc, dạy hậu côn có phép có khuôn, khoa hòa tiếp bạn, từ thiện khuyên người, chùa cảnh Trú Trì sửa sang tố hảo.
4. Những ngày cuối cùng
Những tưởng rằng:
Tuổi Phật còn cao để lo toan thượng cầu hạ hoá, chung tay vun gốc Bồ Đề, hiệp sức đắp nền Đạo giác: Hầu một ngày kia mưa cam lồ tưới dầm khắp chốn, bông Ưu đàm nở toả mọi nơi để tiếp dẫn hậu côn nỗ lực tiến tu và dắt dìu lên đài Cực Lạc.
Nào ngờ đâu, gió mây bất trắc, cuộc tang hải lỡ bồi khó hiểu, luật vô thường đảo điên lắm nổi. Giữa tiết đầu Xuân ngày 12 tháng Giêng năm Bính Thìn (1976), sau khi tham dự lễ huý nhật Tổ Sư khai sơn Tổ Đình Bảo Quốc trở về, pháp thể Ngài khiếm an, mặc dù đã được môn đồ pháp quyến, y bác sĩ tận tình chữa trị nhưng Đại lão Hoa Thượng đã thuận lý vô thường, an nhiên thị tịch, đoan ngự Liên đài vào lúc 13 giờ ngày 14 tháng Giêng năm Bính Thìn (1976) hưởng thọ 82 năm nơi trần thế và 53 mùa Hạ Lạp huân tu.
Quả thật, cả đời phổ tế, 82 năm công thành chứng đắc, bóng vô minh rẽ nẻo vô sinh. Giờ phút đăng trình, 53 mùa vui trong pháp lạp, Đức bủa ân ban nhiếp chúng bình an!
Bậc hiền nhân đã dự vào dòng Phật sử
Như hạc vàng đã cất cánh nhàn du
Sự nghiệp bao năm nay gửi lại
Diêm phù Xả huyễn thân Ngài về nơi vô trụ.
Ôi! Giấc mộng tỉnh say, đời trần hư thiệt!
Trăm năm cuộc thế nào khác đêm dài
Một phút siêu linh, còn đâu bóng chiếc.
Đó đây hiu quạnh, chốn rừng thiền tịch mịch,
Bóng hình hài huyễn ảnh lánh xa
Sau trước êm đềm, nơi lan nhã vắng không,
Tiếng pháp nhũ thanh âm cách tuyệt.
Đau xót nổi, bơ vơ chiều vắng lặng,
Nào thiền sàn đâu nữa bậc cao minh
Ngẫn ngơ thay, thăm thắm tấm u hoài,
Kìa Bảo Tháp nêu cao gương thanh khiết
Vuông tròn một niệm, ngàn kiếp thánh thơi.
Trong lặng suốt đời, muôn duyên tuyệt diệt!
Tang lễ của Ngài đã được trang nghiêm long trọng tổ chức tại chùa Châu Lâm từ ngày 14 đến 20 tháng Giêng năm Bính Thìn (1976), chính thức Cử hành lễ Cung nghinh Kim Quan Cố Đại lão Hoà Thượng nhập vào bảo tháp vô tung tại khuôn viên chùa Châu Lâm.
Sau khi Ngài đã tuỳ duyên lai khứ, hỷ lạc Tây quy, Môn phái Tường Vân cùng môn đồ pháp quyến đã uy cử Hoà Thượng Thích Phước Thành là đệ tử của Ngài lãnh trọng nhiệm Trú Trì và đã khởi công đại trùng tu ngôi Chánh điện vào ngày kỷ niệm Huý nhật của Đại lão Hoà Thượng Khai Sơn ngày 13 tháng Giêng năm Mậu Tý (2008). Nhưng đến ngày 8 tháng 7 năm Mậu Tý, Hoà Thượng Thích Phước Thành cũng đã Ta Bà bảo mãn, hồi quy tịnh giới. Hòa Thượng Thích Thiện Phước cùng với đệ tử xuất gia của Cố Hoà Thượng Thích Phước Thành đã tiếp tục sứ mệnh trùng hưng Phật cảnh, tiếp dẫn hậu lai, thiệu long Tam Bảo, báo Phật ân Đức, duy trì và phát triển chốn Già Lam Châu Lâm ngày càng tố hảo trang nghiêm làm nơi trở về tu học Chánh Pháp của rất đông hàng đệ tử xuất gia và các giới tại gia cư sĩ.
Giờ đây, trước Linh đài trầm hương thanh tịnh, kỷ niệm 50 năm ngày Cố Đại Lão Hoa Thượng lên Đâu Suất Đàm kinh, nhang thơm một nén, lễ bạc kính dâng, Tiểu sử đôi dòng, hết lòng thành kính.
Nguyện cầu Giác Linh Cố Đại Lão Hoà Thượng thượng phẩm cao đăng, kính nguyện đấng Tôn Sư Liên Trì tịch diệt.
Thành kính đảnh lễ bậc Cao Tôn – Phục duy giám cách.
Nam mô Lâm Tế Chánh Tông Tứ thập tam thế, Liễu Quán Thiền phái, Tường Vân môn hạ, khai sơn Châu Lâm tự Trú Trì huý thượng Tâm hạ Án, Đạo hiệu Vĩnh Thừa Đại lão Hòà Thượng Giác Linh thuỳ từ mẫn giám.
Cuối Đông, ngày 15 tháng 12 năm Ất Ty Chùa Thiên Minh – Huế Đệ tử Tỳ Kheo Thích Khế Chơn Cẩn soạn
