Phật hoàng Trần Nhân Tông (1258-1308) là một vị hoàng đế, anh hùng của dân tộc và là một thiền sư, thi sĩ Phật giáo Việt Nam. Ngài là người đã tiếp thu những tinh hoa tư tưởng từ một nền Phật giáo chức năng để chuyển sang nền Phật giáo thế sự, đáp ứng các nhu cầu lịch sử đặt ra mà các vua Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông đặt nền móng trước đó. Có thể nói, tư tưởng của ngài được đúc kết qua hai bài Đắc thú lâm tuyền thành đạo caCư trần lạc đạo phú được viết bằng chữ Nôm. Trong đó, Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca được xem là một khúc ca chứng đạo, một tuyệt tác ca ngợi sự giác ngộ, giải thoát tự thân mà Phật hoàng đã chứng nghiệm. Đến nay, trải qua hơn 700 năm thăng trầm của lịch sử, sức sống giải thoát của nó vẫn còn lan toả đến những tâm hồn đang trên hành trình quay về nẻo giác.

  1. Hoàn cảnh ra đời của bài Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca

Bài Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca (得 趣 林 泉 成 道 歌) được tìm thấy trong Thiền Tông Bản Hạnh (禪宗本行). Đó là bài ca thành đạo của Sơ Tổ Trúc Lâm. Theo Thanh Từ toàn tập, tập 35,  HT. Thích Thanh Từ giải nghĩa tiêu đề bài thơ như sau: chữ “thú” là đến, “lâm” là rừng, “tuyền” là suối, có nghĩa là Tổ lên núi rừng, qua suối ngàn, tu thành đạo nên làm bài ca này. Trước khi xuất gia, ngài là một vị vua sống trong cung vàng điện ngọc, thấy rõ những sự ràng buộc nơi thế gian nên mới quyết tâm vào núi rừng, ở một mình trong cảnh yên lặng để sống với lẽ thật mà Ngài đã chứng ngộ.

Nguyên văn:

境 寂 安 居 自 在 心,

涼 風 吹 遞 入 松 陰.

禪 床 樹 下 一 經 卷,

兩 字 清 閑 勝 萬 金.

Phiên âm:

Cảnh tịch an cư tự tại tâm,

Lương phong xuy đệ nhập tùng âm.

Thiền sàng thụ hạ nhất kinh quyển,

Lưỡng tự thanh nhàn thắng vạn câm (kim).

Dịch nghĩa:

Cảnh lặng, sống yên, lòng tự tại,

Gió mát thổi đến dưới bóng cây thông.

Giường thiền ở dưới gốc cây, kinh một quyển,

Hai chữ thanh nhàn quý hơn vạn nén vàng.

Dịch thơ:

Sống yên giữa cảnh lặng lòng không,

Gió mát hiu hiu lọt bóng thông.

Dưới gốc, giường thiền, kinh một quyển,

Thanh nhàn hai chữ, đáng muôn đồng.1

(Huệ Chi dịch)

  1. Nội dung tư tưởng

Thông thường, người mới học đạo đa phần đều hướng tâm tìm một không gian, môi trường thanh tịnh để tu tập. Bởi lẽ, họ cho rằng yếu tố ngoại cảnh sẽ tác động mạnh mẽ đến đời sống tu tập và nếu như mới phát tâm xuất gia mà ở trong môi trường không được thanh tịnh sẽ dẫn đến tâm dao động, phiền não sanh khởi, dễ thối tâm. Cho nên, đối với họ, ngoại cảnh là chất liệu cần thiết để nuôi dưỡng nội tâm an tịnh. Tuy nhiên, dưới cái nhìn của người đạt đạo lại hoàn toàn khác như vậy. Cụ thể, trong hai câu đầu của bài kệ Phật hoàng Trần Nhân Tông đề cập đến việc chọn nơi yên vắng, tĩnh lặng để tu hành nhưng nội hàm mang ý nghĩa sâu sắc:

“Cảnh tịch an cư tự tại tâm,

Lương phong xuy đệ nhập tùng âm.

(Sống yên giữa cảnh lặng lòng không,

Gió mát hiu hiu lọt bóng thông.)2

Đọc câu đầu tiên, ta có cảm nhận như là lời khuyên chân tình của Tổ, sống ở trên đời nên chọn cảnh nhàn tịnh để có thời gian học đạo Thiền, tu tập theo lời dạy của Đức Phật để cuộc sống có ý nghĩa và tâm được an lạc hơn. Song, việc chọn môi trường, trú xứ tu tập rất cần thiết, nhưng để tâm thanh tịnh, tự tại, Phật tính hiển lộ trong mọi hoàn cảnh thì chúng ta mới thực sự đang sống trong giác ngộ, đây mới là mục đích tối thượng của học đạo. Do đó, Tổ dạy: “Cảnh tịch an cư tự tại tâm” nghĩa là người tu hành ở yên trong cảnh lặng lẽ thì tâm tự tại. Cho nên, việc chọn ngoại cảnh phù hợp chính là thực hành pháp “an cư”, thân an thì tâm mới lạc, có pháp hỷ trong đời sống nội tâm. Liên hệ vấn đề này, đối chiếu với kinh tạng Nikàya có rất nhiều kinh đề cập đến môi trường tu tập như kinh số 17 Kinh Khu Rừng thuộc Trung Bộ kinh, tương đương với kinh số 107 Kinh Lâm thuộc Trung A Hàm và kinh số 4 Kinh Sợ hãi và khiếp đảm của Trung Bộ kinh tương đương kinh số 77 Kinh Sa kê đế tam tộc tánh tử thuộc Trung A Hàm. Cho thấy trú xứ tu tập của các vị Tỳ-kheo là những khu rừng chủ yếu ở dưới gốc cây để thiền định. Điển hình trong Khuddaka Nikàya ghi lại rằng: Đức Phật đã nói rằng một Tỳ-kheo thì nhất định phải “Ưa muốn ẩn dật Thiền tịnh, thích thú ẩn dật Thiền tịnh, chuyên chú nội tâm tịnh chỉ, không gián đoạn thiền tịnh thành tựu quán trí, hành trì hạnh đi đến các ngôi nhà trống, thì ngay trong hiện tại đạt được chánh trí” có nghĩa là lời tuyên bố về giác ngộ, mà giác ngộ chính là mục tiêu cuối cùng của hành giả đi tìm chân lý. Trong trường hợp khác, Sivaka trả lời: “Dù thân con đang ở trong làng nhưng tâm con thì bao giờ cũng hướng về nứi rừng”. Câu nói trên của Sivaka khiến ta nhớ đến câu trong Cư trần lạc đạo phú: Mình ngồi thành thị/ Nết dùng sơn lâm3 Khi còn là vua, ngài ở đời tuỳ duyên vui với đạo, nhưng khi quyết tâm từ bỏ danh vọng quyền uy để một lòng hướng về giải thoát thì ngài lên thẳng non xanh để tìm về con người thật của chính mình. Và khi đạt đạo, ngài thấy rằng khi tâm tự tại, giải thoát có mặt thì ở đâu cảnh cũng tịch, ở đâu cũng là nơi mình an cư mà theo ngài Duy Ma Cật trong kinh Duy Mật Cật sở thuyết ghi rằng: Trà đình tửu điếm vô phi thanh tịnh đạo tràng” có nghĩa là trà đình tửu điếm đều là đạo tràng thanh tịnh, đây là cái nhìn vô chấp của các bậc Bồ-tát.

Bên cạnh đó, cảnh và tâm đồng nghĩa với tư tưởng “thân tâm nhất như” của Phật giáo Đại thừa Thiền tông. Do đó, đối với các bậc thiền sư ngộ đạo, liễu ngộ được lý sắc không, thấu rõ bản chất vạn vật nên ở chỗ nào cũng là cảnh yên tịnh vì trong tâm thanh tịnh nên thấy hoàn cảnh, trú xứ nào cũng thanh tịnh như Tuệ Trung thượng sĩ nói “Được nơi an định hãy cứ an định”4. Tiếp đến câu hai cho thấy, khi chúng ta ở trong cảnh an tịnh, tâm tự tại rồi thì nghe được gió mát thổi vào bóng cây tùng. Ở đây, Thiền sư đang sống với “tánh nghe” chân thật nên nghe được những âm thanh tự nhiên, thưởng thức tặng phẩm của thiên nhiên, nhưng những ai còn đang sống trong vọng niệm tuy nghe nhưng nghe với tâm phân biệt, tâm sanh diệt mà Tuệ Trung thượng sĩ cũng đã nói rằng: Tâm sinh thì sống chết sinh /Tâm diệt thì sống chết diệt5 có nghĩa là tâm là căn nguyên của cội nguồn sanh diệt, sanh tử và như vậy chừng nào chúng ta sống với bản thể bất sanh bất động, bản thể tánh không là chúng ta đang sống tiêu dao, tự tại, bình thản trước những biến thiên cuộc đời, như PGS.TS Nguyễn Công Lý cho rằng: “Hình ảnh thiên nhiên hiện thực…mà nhà thơ đã chiêm nghiệm…là thiên nhiên trong cuộc sống, gần gũi với con người, được cảm nhận thông qua cảm thức con người trung đại nên thiên nhiên ấy hoà với lòng người, mang tính cách rất người. Sống với thiên nhiên, con người sẽ được tiêu dao tự tại,… giải toả tâm linh… xua tan đi bao nỗi lo âu phiền muộn của cuộc đời.”6 Hình ảnh thiên nhiên có mặt xuyên suốt trong các tác phẩm của ngài Trần Nhân Tông, đó là tiếng nói giải thoát mà Thiền sư đã thể nhập. Và như vậy, từ những điều trên nói lên rằng nếu như Phật giáo Nguyên thủy ban đầu chủ trương đời sống xuất thế, ẩn mình nơi rừng núi thì Phật giáo Đại thừa hòa mình vào cuộc đời, giác ngộ ngay trong cuộc đời trên tinh thần “Phật pháp tại thế gian, bất ly thế gian giác”.

Với cương vị là nhà lãnh đạo, ngài đã hai lần lãnh đạo toàn dân đánh tan đạo quân xâm lược của đế quốc Nguyên Mông và cũng đã từng cầm quân đánh dẹp quân Ai Lao xâm phạm biên giới Tây Bắc của tổ quốc, đã hai lần đứng ra tiếp sứ bộ Bắc triều và đã vân du về phương Nam, biến hai châu Ô Mã, Việt Lý thành vùng đất Thuận Hóa sáp nhập vào bản đồ của đất nước. Để rồi Trần Nhân Tông đã cùng với dân tộc hát lên bài ca chiến thắng: “Non sông nghìn thuở vững âu vàng.” Nhưng khi việc xong, ngài lui về núi rừng, để tìm lại niềm vui muôn thuở, niềm vui của sự đạt đạo:

Thiền sàng thọ hạ nhất kinh quyển,

Lưỡng tự thanh nhàn thắng vạn câm”.

(Dưới gốc, giường thiền, kinh một quyển,

Thanh nhàn hai chữ, đáng muôn đồng.)7

Câu thứ ba và tư là câu cực kỳ quan trọng, xác định điểm then chốt của người học đạo Thiền. Với khung cảnh dưới gốc cây có một bồ đoàn, nhưng điểm đáng lưu ý ở đây Trúc Lâm đại sĩ tu thiền nhưng có một cuốn kinh bên cạnh để dụng công tu tập đã cho thấy tinh thần “Thiền-Giáo song hành” của tư tưởng Phật giáo Việt Nam. Đó là kim chỉ nam như lời Đức Phật đã dạy trong kinh Trung Bộ rằng: “Hãy lấy pháp làm nơi nương tựa” vì đó là “Pháp thân của chư Phật”. Điều này thể hiện rõ trong nền Thiền học Việt Nam đều dựa trên cơ sở kinh Hoa Nghiêm, Kim Cang, Pháp Hoa như trước đó Thiền gia Hoàng đế Trần Thái Tông đã chọn kinh Kim Cương và Kim Cương tam muội rồi chú giải để làm cơ sở lý luận biện tâm, đến Trần Nhân Tông khai thác triệt để tư tưởng Đại thừa để làm cơ sở lý luận tiền đề hình thành nền minh triết Cư trần lạc đạo cho nhân dân Đại Việt.

Hình ảnh một cái bồ đoàn, cuốn kinh là tài sản của đời sống ít muốn biết đủ, cho nên dù là cung vàng điện ngọc hay danh tiếng quyền uy chỉ là giả tạm mà thôi. Lại nữa, hình ảnh ngồi thiền trên bồ đoàn lại xuất hiện ở ngữ cảnh khác dưới cái nhìn thiền quán khi thiền sư ung dung tự tại “Ngồi thiền trên nệm cỏ ngắm cánh hồng rơi rụng.” Dưới góc độ Thiền tông, thành đạo chính là “kiến tánh khởi tu” hay khác hơn đó là “Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc”, nghĩa là xoay lại chính mình là việc bổn phận gốc của người tu, không từ ngoài mà đạt được. Chúng ta tu hành để giác ngộ tính Phật sẵn có nơi mình, giải thoát khỏi mọi khổ đau triền phược, để sống an vui tự tại, thoát ly sanh tử. Qua câu thứ 3, chúng ta thấy Phật hoàng không chủ trương lấy riêng một pháp môn hay một bộ kinh nào làm cốt lõi, mà ngài dung hợp nhất quán các nguồn tư tưởng Đại thừa để vận dụng vào đời sống tu tập tự thân và làm đường lối tu hành cho mọi người vì “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh”. Và Thiền của ngài là thực hành tất cả Phật pháp trên nền tảng Pháp thân, bản thể tánh không, tụng kinh niệm Bụt, Thiền Tịnh song tu mà ngay trong bài ca ngài đã chứng ngộ “Pháp thân thương trụ/ Phổ mãn thái hư”. Có thể nói, đây là một điểm khác biệt so với Thiền tông Trung Hoa.

Một trạng thái giải thoát lại được hiện thực hoá ở câu thứ 4: Thanh nhàn hai chữ, đáng muôn đồng. Thanh nhàn ở đây không phải cái nhàn thông thường với hàm nghĩa không làm gì hết, lại càng không phải là cái nhàn tiêu dao của nhà Nho Chu Văn An trong câu“Thân nhàn tựa áng mây trôi/ Gió trăng nửa gối việc đời nhẹ tênh”6 mà cái nhàn ở đây là cái nhàn của người đạt đạo với ý nghĩa thân không còn lệ thuộc nơi vật chất, tâm không còn tạo tác những ý niệm, vọng tưởng sai biệt như ta bắt gặp trong câu “Muôn nghiệp lặng/ An nhàn thể tánh”. Sự thanh nhàn đồng nghĩa với tâm đã được giải thoát và giải thoát có được từ sự tu tập khai mở trí tuệ tự thân.

Và nếu như người thế gian cho rằng tiền bạc là quý giá nhất, thì người đạt đạo lại cho rằng thanh nhàn trong từng khoảnh khắc, hoàn cảnh mới là điều quý báu. Bên cạnh đó, cái nhàn cũng được tìm thấy trong hai câu cuối của Trần Minh Tông: Thế gian nhàn bán nhật/ Nhương đắc nhất thiên kim (Ở trần gian mà nhàn nhã được nửa ngày/ Thì cũng quý như đoạt được ngàn vàng). Như vậy, sự thanh nhàn là chất liệu toả ra từ sự tu tập và nếu tu hành mà nội tâm không an lạc, tự tại thì suốt đời ta vẫn là kẻ: Vĩnh vi lãng đãng phong trần khách/ Nhật viễn gia hương vạn lý trình (Lênh đênh làm khách phong trần mãi/ Ngày hết quê xa vạn dặm đường).

Tóm lại, bài kệ tuyệt cú Đắc thú lâm thuyền thành đạo ca của Trần Nhân Tông đã chuyển tải thông điệp giải thoát tự thân với tâm an nhiên tự tại, đó là lúc chúng ta khám phá ra rằng cảnh luôn luôn vẫn tĩnh lặng như vậy và ngọn gió trong mát thổi vào hàng tùng tuy động mà tĩnh. Để rồi Thiền sư ngồi dưới gốc cây với một giường Thiền, cùng với một quyển kinh và đó được xem là sự “thanh nhàn” mang ý nghĩa giải thoát quý hơn cả mọi thứ sang trọng nơi trần gian.

Và hơn hết, nếu như Trung Hoa có Chứng đạo ca của Thiền sư Vĩnh Gia Huyền Giác, Việt Nam có Phật tâm ca của Tuệ Trung thượng sĩ, và Phật hoàng Trần Nhân Tông đã đóng góp tiếng nói giải thoát trong bài Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca. Qua hai văn bản tác phẩm trên, chứng tỏ Thiền tông đời Trần là dòng thiền có nhiều bậc thiền sư thực tu thực chứng, toát ra một sức sống rất mạnh mẽ linh hoạt, ảnh hưởng rất lớn đến đời sống tâm linh của dân tộc ta vào thời bấy giờ. Do nhận ra được tâm chân thật ngay nơi thân sanh diệt này mà các ngài sống tùy duyên nhưng vẫn luôn an lạc, sống với tâm chân thật trong mọi hoàn cảnh. Qua bài kệ này, Phật hoàng Trần Nhân Tông đã thiết lập tính cách vừa xuất thế lại vừa nhập thế, không phân biệt xuất gia và tại gia cư sĩ, chỉ cần tu tập đúng pháp thì trải nghiệm giải thoát có mặt ngay trong hiện tại. Đây là tông chỉ của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Tinh thần đó, được HT. Thích Thanh Từ nhận định: “Con người của Sơ tổ Trúc Lâm làm việc gì phải đến nơi đến chốn, đạt kết quả viên mãn mới thôi. Đánh giặc khi nào quân xâm lăng ra khỏi nước mới dừng. Nghiên cứu Phật pháp đến chỗ uyên thâm nhất mới thỏa mãn. Tu hành đến ngộ đạo mới đi hoằng hóa. Thật là một tấm gương sáng ngời để cho kẻ đời, người đạo học hỏi theo”.

Đã gần tám thế kỷ trôi qua, thế mà những người con của quê hương đất nước vẫn tiếp tục ngóng vọng về dãy núi Yên Tử, như để tìm lại âm hưởng giải thoát của ngài. Phải chăng ngài là biểu tượng cho sự trở về nhận lại chân tâm Phật tính của mỗi cá nhân và của cả dân tộc Việt Nam?

TRUNG BẢO GIÁC NGỌC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Viện Văn học, Thơ văn Lý Trần, tập 1, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1978.
  2. Viện Văn học, Thơ văn Lý Trần, tập 2, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1978.
  3. Viện Văn học, Thơ văn Lý Trần, tập 3, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1978.
  4. Trúc Thiên (dịch) (1969), Tuệ Trung thượng sĩ ngữ lục, Tu thư Đại học Vạn Hạnh.
  5. Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, Nxb. Phương Đông.
  6. Lê Mạnh Thát (1999), Nghiên cứu về Thiền uyển tập anh, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh
  7. Nguyễn Công Lý (2003), Văn học Phật giáo thời Lý – Trần, Diện mạo và đặc điểm, Nxb. Đại học Quốc gia TP.HCM.
  8. Thích Phước Đạt (2016), Giá trị văn học trong tác phẩm của thiền phái Trúc Lâm, Nxb. Hồng Đức.
  9. Thích Hạnh Tuệ (2019), Văn học Phật giáo Việt Nam – Một hướng tiếp cận, Viện Nghiên cứu Phật học VN, Nxb. Khoa học xã hội.
  10. Ngô Đức Thọ và Nguyễn Thúy Nga (dịch), Thiền uyển tập anh, ViệnNCPHVN, Nxb. Hà Nội.

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Bài viết cùng chuyên mục:

Cảm Niệm Đêm Phật Thành Đạo
Thơ, Văn học

Namo Sakya Muni Buddha CẢM NIỆM ĐÊM PHẬT THÀNH ĐẠO Thích Tánh Tuệ Cách đây hơn 2500 năm về trước, Đức Phật nhập định dưới cội cây bồ đề, rồi từ đó cả nhân loại bước sang một trang mới. Lòng từ bi của Người soi sáng cả pháp giới, ánh quang minh bao phủ muôn vạn loài, những khổ đau muôn kiếp theo vô minh vỡ tan. Nhờ có đêm thành đạo mà...

Giải mã Phật viện Đồng Dương nhìn từ cấu trúc của Thai tạng giới mạn-đà-la Mật tông.
Lịch sử, Nghiên cứu, Văn hóa

Phế  tích Đồng Dương (1) là tổ hợp kiến trúc đền-tháp Phật giáo quan trọng nhất của vương quốc Champa, hiện tọa lạc tại xã Bình Định Bắc, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Phế tích đồ sộ này đã được Henri Parmentier và Charles Carpeaux khai quật trong thời gian từ ngày 07-9-1902 đến...

Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử và Thiền phái Liễu Quán – Những nét tương đồng
Lịch sử, Nghiên cứu

TÓM TẮT Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử là thiền phái Phật giáo yêu nước, nhập thế, kết hợp chặt chẽ giữa đời và đạo, đạo với đời. Vào thế kỷ XVII-XVIII, hệ tư tưởng của thiền phái Trúc Lâm lại có điều kiện tỏa sáng trong đời sống người dân. Hệ tư tưởng này...

Tư tưởng nhập thế của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử trong sự nghiệp đoàn kết, xây dựng và phát triển đất nước
Luận, Nghiên cứu, Văn hóa

Tóm tắt: Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ thế kỉ thứ I trước Công nguyên và đồng hành trong đời sống tinh thần của dân tộc. Tuy nhiên, đến thế kỷ 13 khi xuất hiện Thiền phái Trúc Lâm mà vua Trần Nhân Tông là vị tổ sư khai sáng thì Phật giáo...

Tinh thần nhập thế, hộ quốc an dân và công hạnh các bậc cao tăng trong lịch sử
Nghiên cứu, Văn hóa

Tinh thần nhập thế của Phật giáo đã có từ thời Mâu Tử, nhưng dưới thời Vua Trần, thì được phát triển mạnh mẽ nhất. Đặt nền móng cho tinh thần nhập thế ấy là khi tướng Trần Thủ Độ nói với Vua Trần Thánh Tông: “Tôi dám nói rằng bệ hạ vì sự tự...

Ảnh hưởng của Phật giáo trong văn học chữ Nôm giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX
Lịch sử, Nghiên cứu, Văn hóa

Giai đoạn lịch sử xã hội đầy biến chuyển, phản ảnh đời sống con người văn học chữ Nôm giai đoạn này cũng đã ghi nhận vào mình khá đầy đủ mọi phương diện về đời sống tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng. Đời sống ấy được quy chiếu vào văn thơ...

Tôn Sư trọng Đạo – dưới góc nhìn của đạo Phật
Nghiên cứu, Văn hóa

Nói đến truyền thống Tôn sư trọng đạo là nói đến mối quan hệ tương tức và tương nhập. Đây là mối quan hệ cùng nhau, nếu thiếu hay tách biệt sẽ không tồn tại. Có cả thầy và trò trong mối quan hệ trong nhau, cùng nhau, để hiện hữu, chuyển tải và hóa Đạo...

Tôn Sư Trọng Đạo, Nét Đẹp Tri Thức Và Nhân Văn
Tuỳ bút, Văn học

“Nhất tự vi sư, bán tự vi sư”, một chữ cũng là Thầy, nửa chữ cũng là Thầy là câu lưu truyền để nói lên công ơn của những người Thầy đã dành cho chúng ta, dù nhiều hay ít, cũng là những nền tảng để mỗi người có được sự hiểu biết và phát triển theo hướng tích cực. Tôn sư trọng đạo vốn là truyền thống cao đẹp, thiêng...

Tìm hiểu trai đàn Giải oan Bạt độ trong nghi lễ Phật giáo xứ Huế
Nghiên cứu, Văn hóa

Trai đàn Giải oan bạt độ là một pháp phương tiện. Nó nhắc nhở mỗi con người nên tự thân ý thức về những hành nghiệp của mình, đừng để gây ương lụy để rồi thọ khổ quả, đó là ý nghĩa “lấy việc độ tử mà độ sinh” trong Đạo Phật. Dẫn nhập: Nghi lễ...

Vai trò của Hòa thượng Giác Tiên đối với phong trào chấn hưng Phật giáo ở Trung Kỳ
Lịch sử, Nghiên cứu

Mở đầu Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ rất sớm, với sứ mệnh “đồng hành” cùng dân tộc cũng bắt đầu từ đó. Vì vậy, sự hưng suy của một quốc gia cũng chính là những nốt nhạc “trầm bổng” của đạo Phật. Nó đã được giới thiệu vào thời hoàng kim của...

Lễ Sóc, Vọng trong lịch sử
Lịch sử, Nghiên cứu, Văn hóa

Hàng tháng, mỗi ngày Rằm, mùng Một Âm lịch, người Việt có thói quen thắp hương nhằm thỉnh cầu các vị thần linh, tổ tiên phù hộ cho bình an, hạnh phúc, may mắn… Lịch âm được xây dựng trên cơ sở quan sát chu kỳ, vị trí của Mặt Trăng so với Trái Đất....

Hệ phái Khất sĩ: Quá trình phát triển và những đóng góp
Lịch sử, Nghiên cứu

Tóm tắt Đạo Phật Khất sĩ Việt Nam xuất hiện trong một giai đoạn đặc biệt của đất nước khi bị bảo hộ của Pháp. Xã hội tồn tại hai sắc thái rõ rệt. Nông gia và thành thị. Do tính tương phản của văn hóa và nếp sống đó, một thời gian dài xã hội...

Thiền phái Liễu Quán: Sự truyền thừa và phát triển
Lịch sử, Nghiên cứu

Tóm tắt: Thiền phái Lâm Tế Trung Quốc du nhập vào  Đàng Trong Việt Nam  nửa cuối thế kỷ XVII qua bước chân hoằng hóa của chư Tổ sư người Hán. Kế thừa truyền thống chư Tổ thiền phái Trúc Lâm Việt Nam; Thiền sư Liễu Quán (1667-1742) sau khi đắc pháp với Đại sư Minh...

Tư tưởng thiền phái Tào Động Trung Hoa và ở Việt Nam
Lịch sử, Nghiên cứu

Dẫn nhập Phái Tào Động được thành lập vào khoảng cuối đời Đường. Thiền sư Động Sơn Lương Giới tu học và đắc đạo nơi thiền sư Vân Nham Đàm Thịnh. Thiền sư đến hoằng pháp tại Đông Sơn Phổ Lôi Thiền Tự ở Giang Tây, phát huy tông phái lớn mạnh, sáng lập giáo...

Lịch sử hình thành và bản chất của giáo hội Phật giáo cổ truyền Việt Nam
Lịch sử, Nghiên cứu

1. Lịch sử hình thành Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam Lịch sử đã ghi nhận Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam ra đời vào năm 1969 (Kỷ Dậu) là hậu thân của các tổ chức “Lục Hòa Liên Xã” (ra đời vào năm 1922), “Hội Phật giáo cứu quốc Nam...

Trang trí hoa văn chữ Vạn tại lăng Khải Định – Huế
Kiến trúc-Mỹ thuật, Nghiên cứu

Trang trí hoa văn chữ Vạn ở lăng Khải Định – Huế là một ví dụ cụ thể, bên cạnh các yếu tố thẩm mỹ, nó còn thể hiện một đời sống tâm hồn giàu chất mỹ cảm nguyên sơ mà phong phú, hòa quyện với đời sống tâm linh mang màu sắc Phật giáo...