Trong dòng chảy lịch sử Phật giáo Việt Nam cận đại, giữa những biến thiên dữ dội của thời cuộc và vận nước, đã xuất hiện những bậc chân tu âm thầm gìn giữ mạng mạch đạo pháp bằng chính đời sống thanh tịnh và đạo lực nội chứng của mình. Hòa thượng Phước Hậu là một trong những bậc cao tăng tiêu biểu như thế — không phô trương danh vị, không cầu vọng tiếng, nhưng lại trở thành dấu ấn đặc biệt khi là vị Tăng Cang cuối cùng của triều Nguyễn. Cuộc đời Ngài là sự hòa quyện giữa đạo và đời, giữa chí nguyện xuất trần và trách nhiệm nhập thế, để cuối cùng lắng lại trong một tinh thần giản dị mà sâu xa: trở về với “một chữ Như”.

Chân dung Đại lão Hoà thượng Thích Phước Hậu được phụng thờ tại chùa Hiếu Quang (Huế)
Chân dung Đại lão Hoà thượng Thích Phước Hậu được phụng thờ tại chùa Hiếu Quang (Huế)

1. Thân thế, thời cuộc và nhân duyên xuất gia

Hòa thượng Phước Hậu, pháp húy Trừng Thịnh, pháp tự Như Trung, thuộc dòng Thiền phái Lâm Tế đời thứ 42, là một bậc cao tăng tiêu biểu của Phật giáo Việt Nam trong giai đoạn giao thời đầy biến động của lịch sử dân tộc. Cuộc đời Ngài là sự kết tinh giữa đạo hạnh thanh cao, chí nguyện kiên định và tinh thần nhập thế giữa thời cuộc loạn ly. Ngài thế danh Lê Văn Gia, sinh năm Bính Dần (1866), niên hiệu Tự Đức thứ 15, tại xã An Tiêm, huyện Đông Quan, tỉnh Thái Bình.

Ngài ra đời đúng vào thời điểm triều đình nhà Nguyễn ký hòa ước với thực dân Pháp ngày 5 tháng 6, nhường ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ gồm Định Tường, Biên Hòa và Gia Định. Từ đó, đất nước bước vào giai đoạn chịu ách đô hộ của ngoại bang, xã hội rơi vào cảnh bất ổn, nhân dân lầm than. Tuổi thơ của Ngài vì thế không được sống trong cảnh êm đềm. Trong cơn binh biến, Ngài theo mẹ lánh nạn vào Huế cùng hàng vạn người dân. Giữa cảnh đời ly tán, khi những người khác lần lượt được thân nhân đón về, riêng Ngài lại ở lại chùa Diệu Đế. Chính nơi đây, một nhân duyên lớn đã mở ra: Ngài được Hòa thượng Tâm Truyền từ bi thu nhận, nuôi dưỡng và giáo hóa.

Năm 1884, Ngài xuất gia làm Điệu từ thuở còn thơ ấu, dưới sự dìu dắt của Bổn sư. Từ nhỏ, Ngài đã thể hiện phong thái đĩnh đạc, không ỷ lại, luôn tự xét mình trước mọi việc. Khi đến tuổi thọ Cụ túc giới, Ngài không vội vàng mà nhiều lần trì hoãn, vì tự thấy đạo lực chưa đủ. Đó chính là biểu hiện của một tâm tu chân thật và khiêm cung.

2. Tu học, đắc pháp và hoằng hóa

Đến năm Giáp Ngọ (1894), niên hiệu Thành Thái thứ 6, vâng lời Bổn sư, Ngài đến thọ Cụ túc giới tại Đại giới đàn chùa Báo Quốc, một giới đàn lớn quy tụ giới tử từ đèo Ngang trở vào, diễn ra suốt một tuần lễ, do các bậc danh tăng đảm nhiệm như Hòa thượng Diệu Giác làm Đường đầu, Hòa thượng Hải Thiệu làm Yết-ma và Hòa thượng Linh Cơ làm Giáo thọ. Sau khi thọ giới, Ngài dốc lòng phụng sự Tam Bảo.

Năm 1895, khi Hòa thượng Tâm Truyền được cử trụ trì chùa Diệu Đế, rồi năm sau kiêm trụ trì chùa Báo Quốc, mọi Phật sự tại Diệu Đế đều do Ngài thay mặt quán xuyến. Từ việc hành chính đến giáo dưỡng Tăng chúng sơ cơ về nghi lễ và Sa-di luật, Ngài đều tận tâm đảm trách.

Năm 1898, trước tình trạng xuống cấp của chùa Diệu Đế, triều đình cho phép trùng tu theo tấu trình của Bổn sư. Trong suốt quá trình này, Ngài là người trực tiếp đứng ra lo liệu mọi công việc.

Đến năm 1899, khi Bổn sư được phong Tăng Cang, Ngài được đề nghị kế thế trụ trì nhưng đã khiêm cung từ chối, chỉ nguyện âm thầm trợ đạo.

Năm Mậu Thân (1908), niên hiệu Duy Tân thứ 2, Ngài được phú pháp, ban pháp hiệu Phước Hậu, húy Trừng Thịnh, tự Như Trung, với bài kệ truyền thừa:

純 誠 本 性 美 如 忠
掃 盡 塵 心 道 理 融
德 盛 自 能 蒙 福 厚
真 傳 衣 鉢 振 宗 風

Phiên âm:
Thuần thành bản tính mỹ như trung,
Tảo tận trần tâm đạo lý dung;
Đức thịnh tự năng mông phước hậu
Chân truyền y bát chấn tông phong.

Tạm dịch:
Thuần thành bổn tánh đẹp lòng trung
Quét sạch tâm trần, đạo lý thông
Đức lớn, tự mang đầy ân phước
Chân truyền y bát chấn tông phong.

Bài kệ ấy không chỉ là sự ấn chứng truyền pháp mà còn là kim chỉ nam cho suốt cuộc đời tu hành của Ngài.

Trên con đường hoằng pháp, Ngài lần lượt đảm nhận nhiều trọng trách. Năm 1916, Ngài được sắc phong trụ trì chùa Trường Xuân trong 4 năm. Đến năm 1919, Ngài được chư Sơn cung thỉnh trụ trì chùa Linh Quang. Và đặc biệt, năm 1938, vua Bảo Đại sắc phong Ngài làm Tăng Cang kiêm trụ trì chùa Báo Quốc. Sự kiện này được xem là “tế nhị” trong bối cảnh bấy giờ. Chư Sơn môn tỏ ra dè dặt, bản thân Ngài cũng không mấy thiết tha. Nếu không có sự vận động của Từ Thái Hậu (tức đức Từ Cung, mẹ Bảo Đại), có lẽ việc ấy khó thành. Và cũng từ đó, Ngài trở thành vị Tăng Cang cuối cùng của triều Nguyễn, khép lại một giai đoạn lịch sử của Phật giáo cung đình.

Long vị Đại lão Hoà thượng Thích Phước Hậu được phụng thờ tại chùa Hiếu Quang (Huế)

3. Đạo hạnh, thi kệ và viên tịch

Trong đời sống tu hành, Hòa thượng chuyên trì pháp môn niệm Phật. Câu niệm:

“Nam Mô Tây Phương Quá Thập Vạn Ức Phật Độ, Đồng Danh Đồng Hiệu A Di Đà Phật”

luôn hiện hữu nơi môi Ngài. Gặp ai, Ngài cũng khuyến tấn: “Nguyện đương lai tác Phật”. Đó là tinh thần tín – nguyện – hạnh sâu sắc của pháp môn Tịnh độ, đồng thời cũng là sự trở về với bản tâm thanh tịnh.

Ngài cũng để lại nhiều thi kệ thâm trầm, trong đó có bài:

心 清 天 月 有
性 淨 海 無 波
圓 明 盡 一 點
放 出 滿 山 河

Phiên âm:
Tâm thanh thiên nguyệt hữu
Tánh tịnh hải vô ba
Viên minh tận nhất điểm
Phóng xuất mãn sơn hà

Tạm dịch:
Tâm sạch, trăng trời hiện
Tánh trong, sóng biển tan
Sáng tròn gom một điểm
Phóng tỏa khắp giang san

Và đặc biệt là bài thơ nổi tiếng:

Kinh điển lưu truyền tám vạn tư
Học hành không thiếu cũng không dư
Đến nay tính lại đà quên hết
Chỉ nhớ trên đầu một chữ Như

Bài thơ thể hiện tinh thần vượt ngoài văn tự, buông bỏ tri kiến để trở về với chân như – cốt lõi của con đường tu chứng.

Năm Kỷ Sửu (1949), ngày 30 tháng 2 âm lịch, Hòa thượng an nhiên thị tịch, thọ 83 tuổi đời, 55 hạ lạp. Có tài liệu khác ghi Ngài thọ 87 tuổi, nhưng đều thống nhất rằng Ngài ra đi trong chánh niệm, nhẹ nhàng như nhập thiền định. Nhục thân được tôn trí tại tháp trong khuôn viên chùa Linh Quang.

Bức hoành “Hoài niệm ân sư” tại Phương trượng chùa Hiếu Quang

Cuộc đời Hòa thượng Phước Hậu là một bản hạnh sống động của người tu chân chính: không cầu danh, không cầu lợi, chỉ một lòng giữ đạo, hành đạo và truyền đạo.

Giữa dòng đời vô thường, Ngài để lại cho hậu thế một thông điệp giản dị mà sâu xa:

Giữa muôn pháp biến động, người giữ được “một chữ Như” trong tâm, ấy chính là đã an trú nơi đạo.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Bài viết cùng chuyên mục:

Tiểu sử cố Hòa thượng Thích Hạnh Hoa (1951 – 2025)
Danh Tăng

Hòa thượng thế danh Lê Xuân Quang, sinh năm Tân Mão (1951) tại làng Châu Me, huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi. Thân phụ là cụ ông Lê Huyền pháp danh Tâm Thống, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Láo pháp danh Tâm Ngôn. Ngài là con út trong gia đình có 7 anh...

Bồ tát Thích Quảng Đức vị pháp thiêu thân với trái tim không bao giờ cháy
Danh Tăng

Cách đây tròn 60 năm, Hòa thượng Thích Quảng Đức đã tự thiêu trên đường phố Sài Gòn để phản đối làn sóng đàn áp Phật giáo của chính quyền đương thời, góp phần bảo vệ Phật giáo Việt được trường tồn, nước nhà độc lập, thống nhất. Hòa thượng Thích Quảng Đức đã tẩm...

Tiểu Sử Đức Cố Đại Lão Hoà Thượng Huý Thượng Tâm Hạ Ấn – Đạo Hiệu Vĩnh Thừa Khai Sơn Chùa Châu Lâm Huế (1895 – 1976)
Danh Tăng

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật! Kính bạch Chư tôn Hòa thượng Chứng Kính bạch Chư tôn Hòa thượng, Chư Thượng tọa Đại đức Tăng Kính thưa quý vị khách quý Kính thưa toàn thể Phật tử các giới. Kính thưa quý liệt vị! Hôm nay ngày 13 tháng Giêng năm Bính...

Thiền sư Thanh Đàm (1786-1848): Hành trạng và trước tác
Danh Tăng

Thiền sư Thanh Đàm là một vị danh tăng Việt Nam thời Nguyễn thế kỷ XIX. Mục lục bài viết1. Thân thế, thời cuộc và nhân duyên xuất gia2. Tu học, đắc pháp và hoằng hóa3. Đạo hạnh, thi kệ và viên tịch1. Hành trạng và sự nghiệp Trong nhiều công trình Phật giáo sử...

“Như Huyễn Thiền Sư – Đại Lão Hòa Thượng Thích Từ Thông: Bậc Long Tượng của Phật Giáo Việt Nam
Danh Tăng

Trong dòng chảy hơn hai nghìn năm của Phật giáo Việt Nam, có những bậc cao tăng đã làm rạng danh Phật pháp, không chỉ bằng đời sống thanh khiết, đạo hạnh và tâm nguyện vị tha của mình, mà còn bằng lời giảng, bằng những tác phẩm dịch thuật, sáng tác để đời. Như...

Trưởng lão Hòa thượng Thích Từ Thông: Một đời hoằng pháp, giáo dục Tăng Ni
Danh Tăng

Trưởng lão Hòa thượng Thích Từ Thông (1928–2025), bậc Cao Tăng uyên thâm, Hiệu trưởng Trường Trung cấp Phật học TP.HCM, suốt đời cống hiến cho sự nghiệp Hoằng pháp – Giáo dục. Ngài để lại hàng ngàn thời thuyết pháp và nhiều kinh luận quý báu, gieo hạt giống trí tuệ cho bao thế...

Tiểu sử Trưởng lão Hòa thượng Thích Trí Tịnh (1932-2025)
Danh Tăng

Với tình pháp lữ Linh sơn, Hòa thượng đã ấn tống, tái bản nhiều trước tác của Tổ Tố Liên, Tổ Trí Hải. Hòa thượng đã biên soạn khoa cúng đức Đệ tam Pháp chủ, Đại lão Hòa thượng Thích Phổ Tuệ. Ngoài ra, Ngài còn để lại rất nhiều thi kệ cũng như tán...

Hoà thượng Thích Thiện Siêu – Người không chấp trước những thị phi thế trị
Danh Tăng

Sự thanh thản, sáng suốt của Hoà thượng Thiện Siêu trước lúc lâm chung làm cho tôi ngộ ra nhiều điều. Làm việc gì cũng phải suy nghĩ đến nơi đến chốn. Thấy việc đúng cần phải làm thì làm và làm đến cùng, không sợ trở ngại từ đâu đến. Là một người xuất...

Đại Lão Hòa Thượng Thích Từ Ý – Tiểu Sử, Cuộc Đời và Sự Nghiệp Hoằng Pháp
Danh Tăng

CỐ ĐẠI LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH TỪ Ý (1919-1990)   TRỤ TRÌ CHÙA HÒA AN- P.TAM KỲ, TP.ĐÀ NẴNG Trên dòng chảy hơn hai nghìn năm lịch sử Phật giáo Việt Nam, đã có biết bao bậc cao tăng thạc đức để lại dấu ấn trong lòng hậu thế. Trong số ấy, Đại lão Hòa thượng...

Tổ sư Phi Lai – Một đại sĩ hóa thân
Danh Tăng

Tổ sư Phi Lai là Thiền sư Như Hiển – Chí Thiền (1861-1933), một Chí sĩ yêu nước, một Đại sĩ cứu khổ ban vui, một Tổ sư nối pháp truyền đăng chấn hưng Phật giáo Việt Nam thời hiện đại. Đặc biệt, Ngài đã làm trọn nhiệm vụ của một Sứ giả Như Lai,...

Hòa thượng Bảo Ân – Cánh nhạn phương Nam giữa Vọng Các thành
Danh Tăng

Tổ sư Nhật Đáp Bảo Ân hay Luang phor Bảo Ân – vị Tổ sư có những đóng góp không nhỏ đối với Phật giáo Thái Lan và nước nhà Việt Nam đặc biệt là vai trò của một người con xa xứ, một chí sĩ yêu nước trong phong trào Phật giáo Cứu quốc...

Hòa thượng Thích Quảng Đức vị pháp thiêu thân, rực sáng ngọn đuốc chánh pháp
Danh Tăng

Hòa thượng Thích Quảng Đức, pháp danh Thị Thủy, pháp tự Hành Pháp, thế danh Lâm Văn Tuất, sinh năm 1897 tại làng Hội Khánh, quận Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa, thuộc miền Trung Việt Nam, trong một gia đình có 7 anh chị em, thân phụ là cụ Lâm Hữu Ứng và mẫu thân...

Thiền sư Toàn Nhật Quang Đài (1757-1832)
Danh Tăng

Hiện chưa rõ thế danh, nhưng căn cứ vào các long vị của thiền sư được thờ tại các ngôi tổ đình ở miền Trung và căn cứ vào các tác phẩm của sư hiện còn, nhất là tác phẩm Nôm với sử dụng nhiều từ ngữ địa phương. Hành trạng và sự nghiệp Có...

Tiểu sử Trưởng lão Hòa thượng Thích Đạt Pháp (1923-2014)
Danh Tăng

Hòa thượng Thích Đạt Pháp (1923-2014) là bậc danh Tăng của Phật giáo Việt Nam, từng giữ nhiều trọng trách trong Giáo hội và Trưởng ban Trị sự GHPGVN tỉnh Long An. Suốt đời hoằng pháp, giáo hóa Tăng Ni, Ngài viên tịch năm 2014, trụ thế 92 năm, để lại di sản tâm linh...

Tiểu sử Hòa thượng Thích Thiện Quang (1895 – 1953)
Danh Tăng

Hòa thượng Thích Thiện Quang, pháp húy Hồng Xứng, là đệ tử của Tổ Chí Thiền – Như Hiển (1861-1933), tiếp nối dòng Lâm Tế Gia Phổ đời thứ 40. Ngài là bổn sư của Hòa thượng Thích Trí Tịnh (1917-2014), Đệ nhị Chủ tịch Hội đồng Trị sự GHPGVN. Mục lục bài viết1. Thân...

Đại Trưởng lão Hộ Tông (1893 -1981) – Sơ tổ Phật giáo Nguyên Thủy Việt Nam
Danh Tăng

Trước khi thị tịch, Ngài rất trầm tĩnh sáng suốt, giảng giải cặn kẽ về thiền an-ban sổ tức cho hàng đệ tử, và nhắc lại lời Đức Phật: “An trú hơi thở là an trú của các bậc Thánh”, rồi Ngài trút hơi thở cuối cùng với một nụ cười điểm trên nét mặt...

Ads Blocker Image Powered by Code Help Pro

Đã phát hiện trình chặn quảng cáo!!!

Chúng tôi đã phát hiện thấy bạn đang sử dụng tiện ích mở rộng để chặn quảng cáo. Vui lòng hỗ trợ chúng tôi bằng cách vô hiệu hóa các trình chặn quảng cáo này.