Từ khi đạo Phật được truyền bá đến Tây Tạng, kiến trúc phật giáo đã chiếm một vị trí quan trọng và trở thành hiện thân của nghệ thuật kiến trúc Tạng truyền. Do chịu ảnh hưởng đặc biệt của hoàn cảnh địa lý, nên đại đa số các công trình kiến trúc Phật giáo Tạng truyền đều được xây dựng dựa theo thế núi.

Các nghệ nhân Tây Tạng đã khéo léo sử dụng nhiều thủ pháp trong tạo hình, thiết kế, làm cho kiến trúc Phật giáo Tạng truyền luôn có được quy mô hùng vĩ, điêu khắc tinh xảo, màu sắc rực rỡ, khí thế tạo cho người xem một ấn tượng đặc biệt, đó chính là lòng tôn kính vô hạn đối với đức Phật.

Mối liên hệ chặt chẽ giữa bố cục, kết cấu và công năng

Do bị hạn chế bởi địa hình, kiến trúc Tạng truyền Phật giáo không sử dụng bố cục đối xứng, cũng không có một trục tuyến rõ ràng, mà dựa theo địa thế đồi núi (sơn cư), sắp đặt không gian tự do, linh hoạt. Tuy nhiên, trên tổng thể kiến trúc lẫn tạo hình của từng đơn thể đều toát lên sự cân bằng, hài hòa, mặc dù chúng không hề đối xứng. Đó chính là nghệ thuật: “Trong cái bất đối xứng tìm sự cân bằng, tìm sự hài hòa trong cái biến hóa đa dạng” của người Tây Tạng.

Vì hạn chế trong việc lấy và vận chuyển vật liệu xây dựng, hệ thống cột và gian trong các công trình kiến trúc Phật giáo Tạng truyền đều không lớn. Những kiến trúc lớn như Phật điện, Kinh đường đều do những kiến trúc nhỏ, có thể tích vuông vắn tổ hợp lại mà thành. Chiều cao của một kiến trúc thường nhỏ hơn hoặc bằng với chiều ngang của mặt bằng. Chính vì thế, mặt đứng của hầu hết kiến trúc Tạng truyền đều có hình chữ nhật dẹt. Nhưng trên thực tế, khi quan sát ta thường không thấy rõ rệt. Vì trong thiết kế mặt đứng, các nghệ nhân Tây Tạng đã khéo léo dùng các thủ pháp nhằm kéo dài độ cao của mặt đứng. Như: bố trí cửa sổ trên dưới đều có dạng tuyến thẳng, dài và hẹp, tường có giật cấp, trên mặt đứng hình thành 3 diện lồi lõm khác nhau. Không chỉ hóa giải được cảm giác thấp bè, ngược lại còn tạo nên vẻ khỏe khoắn, mộc mạc cho công trình kiến trúc.

Những kiến trúc quan trọng của Phật giáo Tạng truyền đều lấy hình chữ nhật dẹt làm hình khối chính, tường bên ngoài có độ giật cấp lớn, tạo nên vẻ chắc chắn cho công trình, mang lại vẻ ổn định về thị giác. Hình thể đơn giản, hệ thống các tuyến ngang, cửa sổ nhỏ (hoặc không có) nhấn mạnh một mặt tường trơn, đơn sắc đối lập với những màu sắc rực rỡ trên nóc tạo nên hiệu quả độc đáo về tạo hình cho các công trình kiến trúc Phật giáo tại Tây Tạng. Nét đẹp hùng tráng, uy nghiêm này mang đến những cảm nhận thẩm mỹ khác hẳn với cái đẹp mềm mại do điểm, đường, mặt tạo thành trong hệ thống kiến trúc Hán truyền Phật giáo.

Nghệ thuật kiến trúc Phật giáo Tạng truyền 2

 Cung Podala

Dùng kích thước lớn để thể hiện sự tôn nghiêm

Kiến trúc Phật giáo Tây Tạng đa số chọn địa điểm trên cao, dùng thể tích lớn, với các màu sắc đối lập mạnh mẽ để tăng thêm vẻ tôn nghiêm chốn Phật đàn. Ta có thể dễ dàng lấy ra ví dụ:

– Tang Da Tự (桑耶寺) có tường bao tròn dài hơn 300 m, chính điện ở trung tâm 3 tầng cao gần 20 m. Sáu đại tự viện lớn của Hoàng giáo đều có diện tích trên 500 – 600 mẫu, Đại Kinh đường diện tích từ vài trăm đến vài nghìn mét vuông. Phật điện cao 3 – 4 tầng trở lên.

– Đại Chiêu Tự (大昭寺) có diện tích 1,3 vạn mét vuông, trong đó diện tích kiến trúc hơn 2,5 vạn mét vuông, trong đó riêng tòa chính điện đã chiếm hơn 2.000 m2 diện tích.

– Hạ Lỗ Tự (夏鲁寺) có chính điện cao 2 tầng, diện tích 1.400 m2.

Kiến trúc của cung Podala thì hòa với cả một ngọn núi thành một thể, cao 110 m so với mặt đất, trục đông tây dài 300 m.

Hùng vĩ biết mấy, khí thế biết mấy, đứng trước những công trình kiến trúc uy nghi này con người càng nhận ra sự nhỏ bé của mình, qua đó càng tăng lòng thành kính với chư Phật.

Tuy hùng vĩ cao lớn là vậy, nhưng kiến trúc Phật giáo Tây Tạng không phải do một đơn thể tạo thành, mà dùng nhiều kiến trúc nhỏ, trước sau bất nhất, cao thấp dài rộng khác nhau, tỉ lệ hài hòa, màu sắc khác biệt, tổ hợp lại theo nguyên tắc nổi bật trọng tâm mà thành một tổng thể kiến trúc hoàn thiện. Ngay cả trong những đơn thể nhỏ, đều dùng các thủ pháp kiến trúc như tạo lồi lõm, cao thấp khác nhau, dùng các đường ngang sắp đặt cửa sổ lớn nhỏ hoặc biến hóa màu sắc, thậm chí các vật liệu khác nhau đều được tổng hợp để trở thành một tổng thể thống nhất hoàn thiện.

Vận dụng các thủ pháp thiết kế như cân bằng tổng thể, so sánh, đối lập giữa các đơn thể, làm nổi bật trọng tâm kiến trúc.

Các ngôi chùa lớn ở Tây Tạng trong quá khứ đều không ngừng được tôn tạo, mở rộng, mới có được diện mạo hùng vĩ như ngày nay. Quá trình này thường kéo dài hàng chục, thậm chí hàng trăm năm. Như Tháp Nhĩ Tự (塔尔寺), khởi công vào năm Hồng Vũ đời nhà Minh (CN1379), lần mở rộng gần đây nhất là năm 1926. Đại Chiêu Tự khởi công từ giữa thế kỷ thứ 7, đến năm 1950 vẫn tiếp tục được mở rộng. Với việc mở rộng trong một thời gian dài và quy mô lớn như vậy, làm sao để tự viện vẫn giữ được nét hài hòa thống nhất giữa các công trình kiến trúc mới và cũ. Đây cũng là một nét độc đáo trong nghệ thuật kiến trúc Phật giáo Tây Tạng.

Hài hòa, cân bằng: Kiến trúc Phật giáo Tây Tạng về tổng thể đều dùng bố cục tự do, kết hợp với địa hình mà xây dựng. Có chùa xây trên đỉnh núi như Cam Đan Tự (甘丹寺), Cung Podala, có chùa xây trên sườn núi, gò đồi như Chiết Bạng Tự (哲蚌寺), Tháp Nhĩ Tự (塔尔寺), có chùa xây dưới chân núi như Trát Thập Luận Bố Tự (扎什伦布寺), Sắc Lạp Tự (色拉寺)… Để cân bằng hài hòa về tổng thể, các nghệ nhân Tây Tạng dùng các thủ pháp kiến trúc độc đáo sau: Chọn một chủ thể kiến trúc, sau đó xây dựng các tổ hợp kiến trúc phụ ở xung quanh tạo thành một quần thể có chính có phụ. Sau này khi có điều kiện mở rộng, lại tiến hành mở rộng theo từng tổ hợp riêng, tạo nên sự hài hòa cân đối trên tổng thể mà vẫn giữ được chủ thứ phân minh.

Nghệ thuật kiến trúc Phật giáo Tạng truyền 3

Nghệ thuật so sánh tương phản đối lập: Kiến trúc Phật giáo Tạng truyền thường sắp đặt những tòa kiến trúc chính, có thể tích lớn, màu sắc sặc sỡ, trang trí hoa lệ như Phật Điện, Kinh Đường tập trung ở những nơi có địa thế cao. Ngược lại, những kiến trúc có thể tích nhỏ, công năng phụ, tạo hình đơn giản, không trang trí như Tăng xá lại đặt tại những nơi có địa thế thấp. Tạo nên sự so sánh đối lập về hình khối, màu sắc, trang trí, qua đó làm nổi bật lên chủ thể kiến trúc. Như: Trát Thập Luận Bố (扎什伦布寺) dựa lưng vào núi phía trước là bình địa. Các kiến trúc chính như Phật Điện, Kinh Đường, Ban Thiền Linh Tháp Điện đều được dựng trên lưng núi, bình địa phía trước dựng Tăng xá, dùng khu Tăng xá thấp nhỏ làm nổi bật lên khu kiến trúc chính.

Thủ pháp tương phản độc đáo này còn được thể hiện ở rất nhiều mặt như tương phản về kích thước, về ánh sáng ngoài trời và trong phòng, về tường và cửa sổ, tường và mái, đối lập giữa trong và ngoài, mái bằng và mái dốc…

Sử dụng các đồ hình, phù hiệu, màu sắc mang ý nghĩa đặc biệt: Kiến trúc Phật giáo Tây Tạng thường dùng các đồ hình hoặc màu sắc mang ý nghĩa đặc biệt để truyền tải những thông điệp về Phật giáo Mật tông. Như tầng 3 của Tang Da Tự (桑耶寺) có 5 đỉnh mái biểu tượng của đỉnh núi Tu Di hay Ngũ phương ngũ Phật, các điện đường có mặt bằng khác nhau tượng trưng cho các “Bộ Châu” hợp thành thế giới.

Đàn thành, khởi nguyên từ đồ hình Mandala, sau phát triển ra phong phú hơn thành Đàn thành. Đây là một khái niệm quan trọng trong Phật giáo Mật tông được dùng rất nhiều trong các tạo hình kiến trúc. Như Đại Điện, Phật Tháp của Thác Lâm Tự (托林寺), Bạch Cư Tự (白居寺) đều sử dụng mặt bằng hình vuông có nhiều gấp góc, tượng trưng cho Đàn thành.

Trong quan niệm của người Tây Tạng, màu trắng tượng trưng cho sự cát tường. Các tòa kiến trúc màu trắng luôn tạo cho họ có cảm giác an lạc, thanh tịnh. Màu đỏ tượng trưng cho quyền lực, anh dũng, thiện chiến, sự tôn nghiêm, tương quan với Tôn giáo. Chính vì thế, màu đỏ chỉ được dùng cho Phật Điện, Linh Tháp Điện, Hộ Pháp Thần Điện.

Tiểu kết

Nghệ thuật kiến trúc Phật giáo Tây Tạng chiếm một vị trí đặc biệt trong nền kiến trúc Phật giáo trên thế giới. Tuy chịu sự ảnh hưởng từ kiến trúc Phật Giáo Ấn Độ cổ, và kiến trúc Phật giáo Hán truyền, nhưng người dân Tây Tạng đã khéo léo tiếp nhận, kết hợp một cách hài hòa, có chọn lọc, tạo nên một nền kiến trúc đặc sắc của riêng mình. Tại Tây Tạng, văn hóa Phật giáo đã trở thành một yếu tố không thể tách rời trong văn hóa bản địa. Phật giáo đi sâu vào đời sống dân gian, người dân nơi đây luôn có thái độ tôn kính, thành khẩn và dành những gì đẹp đẽ, quý giá nhất để tô điểm lên kiến trúc Phật giáo, nơi ngự trị của tâm linh của dân tộc Tạng.

Quảng Ân

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Bài viết cùng chuyên mục:

Giải mã Phật viện Đồng Dương nhìn từ cấu trúc của Thai tạng giới mạn-đà-la Mật tông.
Lịch sử, Nghiên cứu, Văn hóa

Phế  tích Đồng Dương (1) là tổ hợp kiến trúc đền-tháp Phật giáo quan trọng nhất của vương quốc Champa, hiện tọa lạc tại xã Bình Định Bắc, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Phế tích đồ sộ này đã được Henri Parmentier và Charles Carpeaux khai quật trong thời gian từ ngày 07-9-1902 đến...

Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử và Thiền phái Liễu Quán – Những nét tương đồng
Lịch sử, Nghiên cứu

TÓM TẮT Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử là thiền phái Phật giáo yêu nước, nhập thế, kết hợp chặt chẽ giữa đời và đạo, đạo với đời. Vào thế kỷ XVII-XVIII, hệ tư tưởng của thiền phái Trúc Lâm lại có điều kiện tỏa sáng trong đời sống người dân. Hệ tư tưởng này...

Tư tưởng nhập thế của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử trong sự nghiệp đoàn kết, xây dựng và phát triển đất nước
Luận, Nghiên cứu, Văn hóa

Tóm tắt: Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ thế kỉ thứ I trước Công nguyên và đồng hành trong đời sống tinh thần của dân tộc. Tuy nhiên, đến thế kỷ 13 khi xuất hiện Thiền phái Trúc Lâm mà vua Trần Nhân Tông là vị tổ sư khai sáng thì Phật giáo...

Tinh thần nhập thế, hộ quốc an dân và công hạnh các bậc cao tăng trong lịch sử
Nghiên cứu, Văn hóa

Tinh thần nhập thế của Phật giáo đã có từ thời Mâu Tử, nhưng dưới thời Vua Trần, thì được phát triển mạnh mẽ nhất. Đặt nền móng cho tinh thần nhập thế ấy là khi tướng Trần Thủ Độ nói với Vua Trần Thánh Tông: “Tôi dám nói rằng bệ hạ vì sự tự...

Ảnh hưởng của Phật giáo trong văn học chữ Nôm giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX
Lịch sử, Nghiên cứu, Văn hóa

Giai đoạn lịch sử xã hội đầy biến chuyển, phản ảnh đời sống con người văn học chữ Nôm giai đoạn này cũng đã ghi nhận vào mình khá đầy đủ mọi phương diện về đời sống tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng. Đời sống ấy được quy chiếu vào văn thơ...

Tôn Sư trọng Đạo – dưới góc nhìn của đạo Phật
Nghiên cứu, Văn hóa

Nói đến truyền thống Tôn sư trọng đạo là nói đến mối quan hệ tương tức và tương nhập. Đây là mối quan hệ cùng nhau, nếu thiếu hay tách biệt sẽ không tồn tại. Có cả thầy và trò trong mối quan hệ trong nhau, cùng nhau, để hiện hữu, chuyển tải và hóa Đạo...

Tìm hiểu trai đàn Giải oan Bạt độ trong nghi lễ Phật giáo xứ Huế
Nghiên cứu, Văn hóa

Trai đàn Giải oan bạt độ là một pháp phương tiện. Nó nhắc nhở mỗi con người nên tự thân ý thức về những hành nghiệp của mình, đừng để gây ương lụy để rồi thọ khổ quả, đó là ý nghĩa “lấy việc độ tử mà độ sinh” trong Đạo Phật. Dẫn nhập: Nghi lễ...

Vai trò của Hòa thượng Giác Tiên đối với phong trào chấn hưng Phật giáo ở Trung Kỳ
Lịch sử, Nghiên cứu

Mở đầu Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ rất sớm, với sứ mệnh “đồng hành” cùng dân tộc cũng bắt đầu từ đó. Vì vậy, sự hưng suy của một quốc gia cũng chính là những nốt nhạc “trầm bổng” của đạo Phật. Nó đã được giới thiệu vào thời hoàng kim của...

Lễ Sóc, Vọng trong lịch sử
Lịch sử, Nghiên cứu, Văn hóa

Hàng tháng, mỗi ngày Rằm, mùng Một Âm lịch, người Việt có thói quen thắp hương nhằm thỉnh cầu các vị thần linh, tổ tiên phù hộ cho bình an, hạnh phúc, may mắn… Lịch âm được xây dựng trên cơ sở quan sát chu kỳ, vị trí của Mặt Trăng so với Trái Đất....

Hệ phái Khất sĩ: Quá trình phát triển và những đóng góp
Lịch sử, Nghiên cứu

Tóm tắt Đạo Phật Khất sĩ Việt Nam xuất hiện trong một giai đoạn đặc biệt của đất nước khi bị bảo hộ của Pháp. Xã hội tồn tại hai sắc thái rõ rệt. Nông gia và thành thị. Do tính tương phản của văn hóa và nếp sống đó, một thời gian dài xã hội...

Thiền phái Liễu Quán: Sự truyền thừa và phát triển
Lịch sử, Nghiên cứu

Tóm tắt: Thiền phái Lâm Tế Trung Quốc du nhập vào  Đàng Trong Việt Nam  nửa cuối thế kỷ XVII qua bước chân hoằng hóa của chư Tổ sư người Hán. Kế thừa truyền thống chư Tổ thiền phái Trúc Lâm Việt Nam; Thiền sư Liễu Quán (1667-1742) sau khi đắc pháp với Đại sư Minh...

Tư tưởng thiền phái Tào Động Trung Hoa và ở Việt Nam
Lịch sử, Nghiên cứu

Dẫn nhập Phái Tào Động được thành lập vào khoảng cuối đời Đường. Thiền sư Động Sơn Lương Giới tu học và đắc đạo nơi thiền sư Vân Nham Đàm Thịnh. Thiền sư đến hoằng pháp tại Đông Sơn Phổ Lôi Thiền Tự ở Giang Tây, phát huy tông phái lớn mạnh, sáng lập giáo...

Lịch sử hình thành và bản chất của giáo hội Phật giáo cổ truyền Việt Nam
Lịch sử, Nghiên cứu

1. Lịch sử hình thành Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam Lịch sử đã ghi nhận Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam ra đời vào năm 1969 (Kỷ Dậu) là hậu thân của các tổ chức “Lục Hòa Liên Xã” (ra đời vào năm 1922), “Hội Phật giáo cứu quốc Nam...

Trang trí hoa văn chữ Vạn tại lăng Khải Định – Huế
Kiến trúc-Mỹ thuật, Nghiên cứu

Trang trí hoa văn chữ Vạn ở lăng Khải Định – Huế là một ví dụ cụ thể, bên cạnh các yếu tố thẩm mỹ, nó còn thể hiện một đời sống tâm hồn giàu chất mỹ cảm nguyên sơ mà phong phú, hòa quyện với đời sống tâm linh mang màu sắc Phật giáo...

Tiếp biến văn hóa Việt-Chăm và Việt-Hoa nhìn từ chùa Việt ở Khánh Hòa
Nghiên cứu, Văn hóa

Tóm tắt: Từ xưa đến nay, chùa Việt ở Khánh Hòa không chỉ thỏa mãn nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo, mà nó còn góp phần gìn giữ, trao truyền các giá trị văn hóa truyền thống cũng như phản ánh sắc thái địa phương. Chùa Việt ở Khánh Hòa ngoài thờ Phật còn dung hòa...

Về pho tượng phật lớn của Phật viện Đồng Dương
Kiến trúc-Mỹ thuật, Nghiên cứu

TÓM TẮT Đi từ mô tả lại thực trạng của pho tượng Phật lớn nhất của người Chăm ở Đồng Dương, bài viết rút ra đặc điểm riêng về cách ngồi, kết tay, y phục,… có sự ảnh hưởng của nghệ thuật Trung Hoa, Nhật Bản. Từ đây, bài viết liên hệ tới một số...