Trưởng lão Hòa thượng Thích Đồng Tiến, tự Thông Hòa, hiệu Viên Hạnh, thế danh Huỳnh Đồng Tiến, là bậc cao Tăng thuộc Thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh, đời thứ 43. Ngài từng đảm nhiệm nhiều trọng trách trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam, đặc biệt có nhiều đóng góp cho sự nghiệp giáo dục Phật giáo, đào tạo Tăng Ni và hoằng pháp tại tỉnh Phú Yên. Với hơn 86 năm hiện hữu giữa cuộc đời, 58 năm tuổi đạo, Ngài đã để lại một đạo nghiệp đáng kính cùng hình ảnh vị nông Tăng thanh bần, giản dị, một đời tận tụy phụng sự Đạo pháp và Dân tộc.

I. THÂN THẾ VÀ GIA ĐÌNH
Trưởng lão Hòa thượng Thích Đồng Tiến, tự Thông Hòa, hiệu Viên Hạnh, thế danh Huỳnh Đồng Tiến, sinh ngày 28 tháng 2 năm Tân Tỵ (1941), tại thôn Triều Sơn, xã Xuân Thọ 2, thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên (nay thuộc tỉnh Đắk Lắk).
Thân phụ của Ngài là cụ ông Huỳnh Hữu Chí, thân mẫu là cụ bà Phan Thị Lứa. Ngài sinh trưởng trong một gia đình có tám người con, gồm bốn trai và bốn gái, Ngài là người con cả. Gia đình vốn có truyền thống nhiều đời thâm Nho, tín Phật, lấy đạo đức và nếp sống hiền thiện làm nền tảng giáo dưỡng con cháu.
Đặc biệt, dòng họ của Ngài có nhiều bậc xuất gia, trở thành những danh Tăng của Phật giáo Việt Nam, tiêu biểu như Hòa thượng Phúc Hộ (bác), Hòa thượng Hành Trụ (anh họ), Hòa thượng Trí Thành (cậu) và Hòa thượng Phước Trí (bác, đồng thời là Bổn sư thế độ của Ngài).
Được trưởng dưỡng trong một gia tộc có truyền thống Phật giáo sâu dày, hạt giống Bồ-đề nơi Ngài sớm được vun bồi, chờ ngày nhân duyên hội đủ để nảy mầm và tăng trưởng.
II. XUẤT GIA TU HỌC VÀ TRUYỀN THỪA PHÁP MẠCH
Ngày mùng 8 tháng 2 năm Kỷ Sửu (1949), khi nhân duyên xuất trần đã chín muồi, Ngài đến Tổ đình Phước Sơn – Đồng Tròn, chí thành cầu xin Hòa thượng Phước Trí cho phép xuất gia học đạo. Cảm nhận được chí nguyện của người con Phật, Hòa thượng hoan hỷ tiếp nhận, thế độ và ban pháp danh Đồng Tiến, pháp tự Thông Hòa. Khi ấy, Ngài vừa tròn chín tuổi.
Năm 1957, nhận thấy điều kiện tu học tại địa phương chưa được thuận duyên, Hòa thượng Bổn sư cho phép Ngài vào Nha Trang tiếp tục con đường học đạo và học đời. Ngài theo học Phật pháp tại Phật học đường Hải Đức, đồng thời trau dồi thế học tại Trường Bồ Đề và Trường Lê Bá Không.
Năm 1960, Ngài thọ giới Sa-di. Đến năm 1965, Ngài rời Nha Trang vào Sài Gòn, trú tại chùa Già Lam, tiếp tục con đường cầu học tại Đại học Vạn Hạnh và Đại học Văn khoa Sài Gòn.
Năm 1968, được sự chấp thuận của Hòa thượng Bổn sư, Ngài thọ Cụ túc giới tại Đại giới đàn Hải Đức, Nha Trang, do Đại lão Hòa thượng Thích Tịnh Khiết làm Đường đầu Hòa thượng truyền giới.
Sau khi thọ giới, Ngài trở về Tổ đình đảnh lễ Bổn sư. Tại đây, Hòa thượng Phước Trí ban cho Ngài pháp hiệu Viên Hạnh, chính thức truyền thừa pháp mạch đời thứ 43 dòng Lâm Tế Chúc Thánh.
Từ đây, trên nền tảng giới luật và sự tu học nghiêm mật, Ngài bắt đầu hành trình phụng sự Phật pháp, tiếp nối mạng mạch thiền môn và vun bồi đạo nghiệp.
III. SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TĂNG TÀI
Ngay từ những năm tháng còn tu học tại Sài Gòn, Hòa thượng đã có duyên với sự nghiệp giáo dục. Khi Giáo hội tiếp quản và đổi tên Trường tư thục Nguyễn Văn Khuê thành Trường Bồ Đề Sài Gòn, Ngài được Hòa thượng Thích Quảng Liên mời giảng dạy môn Ngữ văn. Sau đó, Ngài tiếp tục giảng dạy môn Tiếng Anh tại Trường Bồ Đề Bình Dương.
Năm 1970, Ngài được Giáo hội Phật giáo tỉnh Phú Yên thỉnh mời đảm nhiệm chức vụ Hiệu trưởng Trường tư thục Bồ Đề Tuy Hòa.
Cuối năm 1975, khi hệ thống trường Bồ Đề được bàn giao cho Nhà nước quản lý, Ngài trở về chùa Triều Tôn phụng sự Hòa thượng Bổn sư.
Đây là giai đoạn hậu chiến đầy khó khăn. Những ngôi làng còn in dấu tích chiến tranh, nhiều tự viện đổ nát, đời sống nhân dân vô cùng thiếu thốn. Trong hoàn cảnh ấy, Ngài cùng người dân quê nhà đồng cam cộng khổ, trải qua những tháng ngày mưu sinh vất vả.
Sáng vác cuốc ra đồng, chiều trở về giữ nhịp kinh kệ, Ngài chọn nếp sống của một vị nông Tăng, vừa tự túc sinh hoạt, vừa giữ gìn chí nguyện tu hành. Chính trong những tháng năm gian khó ấy, hình ảnh một vị tu sĩ chân chất, cần lao, gắn bó với ruộng đồng và mái chùa quê đã trở thành nét đẹp đặc biệt trong hành trạng của Ngài.
Năm 1996, Trường Trung cấp Phật học Liễu Quán tỉnh Phú Yên được thành lập. Ngài được Giáo hội tỉnh cử đảm nhiệm chức vụ Hiệu trưởng kiêm Giáo thọ, phụ trách công tác đào tạo Tăng Ni cho đến năm 2012.
Với tinh thần “Kế vãng khai lai, đào tạo Tăng tài”, Ngài không quản ngại đường sá xa xôi, thân hành đến trường giảng dạy, tận tâm truyền trao kiến thức Phật học và kinh nghiệm tu tập cho thế hệ kế thừa. Đối với Ngài, giáo dục không chỉ là truyền đạt kiến thức, mà còn là vun bồi giới đức, đạo hạnh và lý tưởng phụng sự nơi người xuất gia.
Năm 1997, Ngài được suy cử đảm trách chức vụ Trưởng ban Giáo dục Tăng Ni tỉnh Phú Yên. Trên cương vị này, Ngài tiếp tục đóng góp cho sự nghiệp giáo dục Phật giáo địa phương, góp phần đào tạo nhiều thế hệ Tăng Ni có đủ kiến thức và đạo tâm để tiếp nối mạng mạch Phật pháp.
IV. QUÁ TRÌNH CÔNG TÁC GIÁO HỘI VÀ NHỮNG ĐÓNG GÓP CHO PHẬT GIÁO PHÚ YÊN
Năm 1982, khi Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Phú Khánh được thành lập, Ngài được giao đảm nhiệm chức vụ Chánh Đại diện Phật giáo huyện Đồng Xuân, địa bàn bao gồm cả thị xã Sông Cầu ngày nay.
Sau khi huyện Sông Cầu được tách lập vào năm 1985, Ngài tiếp tục đảm nhiệm vai trò Chánh Đại diện Phật giáo huyện Sông Cầu cho đến năm 2011. Trong suốt thời gian ấy, Ngài luôn tận tụy với công việc Phật sự, gắn bó với Tăng Ni, Phật tử và các cơ sở tự viện, góp phần củng cố tổ chức Giáo hội tại địa phương.
Năm 1994, Ngài được Hòa thượng Bổn sư giao phó trọng trách trụ trì chùa Triều Tôn. Với tâm nguyện kiến tạo một đạo tràng trang nghiêm, tạo điều kiện thuận lợi cho Tăng Ni và Phật tử tu học, từ năm 2000, Ngài phát nguyện trùng tu chánh điện, nhà Đông, nhà Tây cùng nhiều công trình phụ cận.
Năm 1998, Ngài được giao đảm nhiệm thêm trọng trách trụ trì Tổ đình Từ Quang (chùa Đá Trắng). Từ đây, cuộc đời hành đạo của Ngài gắn liền với hai ngôi tổ đình danh tiếng thuộc Thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh tại Phú Yên: chùa Triều Tôn và Tổ đình Từ Quang.
Năm 2018, Ngài được Hội đồng Trị sự GHPGVN thỉnh cử đảm nhiệm chức vụ Trưởng ban Trị sự GHPGVN tỉnh Phú Yên lâm thời. Tại Đại hội đại biểu Phật giáo tỉnh Phú Yên nhiệm kỳ VII (2017–2022), Ngài chính thức được suy cử làm Trưởng ban Trị sự tỉnh, đồng thời được Trung ương Giáo hội cung thỉnh tham gia Ủy viên Hội đồng Trị sự GHPGVN.

Năm 2022, Ngài tiếp tục được Đại hội đại biểu Phật giáo tỉnh suy cử tái đảm nhiệm chức vụ Trưởng ban Trị sự GHPGVN tỉnh Phú Yên nhiệm kỳ VIII (2022–2027).
Năm 2026, sau khi sắp xếp, sáp nhập địa giới hành chính, Ngài được suy tôn vào ngôi vị Chứng minh Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Đắk Lắk nhiệm kỳ I (2026–2031).
Trải qua nhiều cương vị khác nhau, từ cơ sở tự viện đến tổ chức Giáo hội cấp tỉnh, Ngài luôn thể hiện tinh thần trách nhiệm, sự khiêm cung và tận tụy. Đối với Ngài, mọi trọng trách đều là phương tiện để phụng sự Tam bảo, chăm lo đời sống tu học của Tăng Ni và đem lại lợi ích thiết thực cho quần chúng Phật tử.
V. HOẰNG PHÁP, TRUYỀN GIỚI VÀ TIẾP TĂNG ĐỘ CHÚNG
Trong hoàn cảnh đất nước còn nhiều khó khăn sau chiến tranh, Hòa thượng vẫn một lòng kiên định chí nguyện “Tác Như Lai xứ, hành Như Lai sự”. Ngài không quản ngại đường xa, thân hành đi bộ hàng chục cây số đến những vùng hẻo lánh như Hòa An, Từ Nham để hướng dẫn người dân quy y Tam bảo, truyền trao giáo lý và gieo duyên lành với Phật pháp.
Cảm mến đạo phong và đức hạnh của Ngài, hàng nghìn thiện tín nam nữ đã phát tâm quy y, nương tựa Tam bảo và tôn Ngài làm thầy.
Với giới đức trang nghiêm và kinh nghiệm tu học, Ngài nhiều lần được Giáo hội cung thỉnh đảm nhiệm các trọng trách trong những Đại giới đàn.
- Năm 1998, tại Đại giới đàn Liễu Quán I, do Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Phú Yên tổ chức tại chùa Bảo Tịnh, Ngài được cung thỉnh làm Đệ tam Tôn chứng.
- Năm 2001, tại Đại giới đàn Liễu Quán II, Ngài được cung thỉnh làm Đệ tứ Tôn chứng.
- Năm 2005, tại Đại giới đàn Liễu Quán III, Ngài được cung thỉnh làm Giáo thọ A-xà-lê.
- Năm 2011, tại Đại giới đàn Liễu Quán IV và V, Ngài tiếp tục được cung thỉnh làm Giáo thọ A-xà-lê.
- Năm 2015 và 2022, Ngài được cung thỉnh làm Tôn chứng Tăng-già tại Đại giới đàn Cam Lộ Giác Ngộ và Cam Lộ Giác Đạo do Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Gia Lai tổ chức.
- Năm 2019, tại Đại giới đàn Bồ-tát Quảng Đức và năm 2022, tại Đại giới đàn Trí Nghiêm do Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Khánh Hòa tổ chức, Ngài đều được cung thỉnh làm Tôn chứng Tăng-già.
- Năm 2025, Ngài được cung thỉnh làm Tôn chứng Tăng-già tại Đại giới đàn Chơn Thành do Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Bình Thuận tổ chức.
Song song với công tác hoằng pháp và giáo dục, Ngài luôn tận tâm tiếp Tăng độ chúng, làm thầy y chỉ cho nhiều vị xuất gia, tạo dựng nền tảng đạo hạnh và nâng đỡ hàng hậu học trên con đường tu tập.
Những đóng góp ấy không chỉ thể hiện qua các chức vụ hay những lần được cung thỉnh tại Đại giới đàn, mà còn được lưu dấu trong từng thế hệ Tăng Ni, Phật tử đã từng được Ngài hướng dẫn, giáo dưỡng và truyền trao đạo lý.
VI. ĐÓNG GÓP CHO XÃ HỘI VÀ TINH THẦN PHỤNG SỰ DÂN TỘC
Không chỉ tận tụy với các Phật sự, Hòa thượng còn tích cực tham gia công tác xã hội, góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Từ năm 1980 đến năm 2016, Ngài tham gia Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thị xã Sông Cầu và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Phú Yên.
Từ năm 2004 đến năm 2021, Ngài tham gia Hội đồng nhân dân xã Xuân Thọ 2 và Hội đồng nhân dân thị xã Sông Cầu.
Với tinh thần nhập thế của đạo Phật, Ngài luôn quan tâm đến đời sống nhân dân, đồng hành cùng địa phương trong các hoạt động xã hội, góp phần xây dựng tình đoàn kết, hòa hợp giữa đạo và đời.
Tại Đại hội đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ IX, Ngài được Nhà nước trao tặng Huân chương Đại đoàn kết dân tộc, ghi nhận những đóng góp của Ngài đối với sự nghiệp đoàn kết và phụng sự xã hội.
VII. HÌNH ẢNH MỘT VỊ NÔNG TĂNG THANH BẦN VÀ BÀI HỌC THÂN GIÁO
Trong suốt cuộc đời hành đạo, dù đảm nhiệm nhiều trọng trách của Giáo hội, tham gia công tác xã hội và gánh vác nhiều Phật sự quan trọng, Hòa thượng vẫn giữ nguyên nếp sống giản dị, thanh bần của một vị nông Tăng.
Mỗi khi trở về chùa, Ngài lại buông xả mọi công việc, khoác lên mình chiếc áo hoại sắc lao động, tự tay cầm cuốc, làm những công việc thường nhật nơi vườn chùa. Không phân biệt việc lớn hay nhỏ, không câu nệ thân phận hay chức vụ, Ngài sống bình dị như một người nông dân giữa làng quê thân thuộc.
Đó không đơn thuần là một thói quen sinh hoạt, mà còn là biểu hiện sống động của tinh thần tu tập và bài học thân giáo dành cho hàng môn đồ pháp quyến.
Ngài dùng chính đời sống của mình để nhắc nhở hậu học rằng, người tu hành dù ở bất cứ cương vị nào cũng không được xa rời đời sống thực tiễn, không để danh vị và công việc làm lu mờ chí nguyện ban đầu. Hiện hữu giữa cuộc đời nhưng tâm không nhiễm bụi trần; đi qua nhân gian mà không để những được mất, hơn thua đè nặng cõi lòng.
Hình ảnh vị Hòa thượng tuổi cao nhưng vẫn cần mẫn với cuốc đất, chăm vườn, giữ nếp sống thanh bần đã trở thành một dấu ấn sâu đậm trong tâm khảm của Tăng Ni, Phật tử. Đó chính là bài học về sự khiêm cung, tinh thần tự lực và đời sống thiền môn giản dị mà Ngài đã âm thầm trao truyền bằng chính cuộc đời mình.
VIII. NHỮNG NGÀY THÁNG CUỐI ĐỜI VÀ GIÂY PHÚT VIÊN TỊCH
Dù tuổi cao, thân mang bệnh duyên, Hòa thượng vẫn luôn an nhiên đối diện với những biến chuyển của thân tâm. Thấu hiểu thân này do duyên sinh, vốn vô thường và giả tạm, Ngài không vì bệnh duyên mà buông lơi chí nguyện phụng sự. Cho đến những ngày tháng cuối cùng, Ngài vẫn một lòng hướng về công việc Phật sự và sự nghiệp chung của Phật giáo tỉnh nhà.
Giữa tháng 9 âm lịch năm 2026, khi môn đồ pháp quyến và tứ chúng đệ tử đang chuẩn bị cho ngày húy kỵ Hòa thượng Phước Trí – bậc Bổn sư thế độ của Ngài, bệnh duyên một lần nữa trở nặng.
Trong những ngày ấy, Ngài bình thản bày tỏ: “Tôi muốn mất cùng ngày giỗ của Thầy tôi, để đệ tử đỡ mệt nhọc”.
Lời nói mộc mạc nhưng chứa đựng tình thầy trò sâu nặng, đồng thời thể hiện sự quan tâm và thương tưởng của Ngài đối với hàng môn đồ pháp quyến.
Và rồi, như một nhân duyên trùng hợp đầy xúc động, vào lúc 03 giờ 45 phút ngày 30 tháng 10 năm 2026 (nhằm ngày 21 tháng 9 năm Bính Ngọ), tại chùa Triều Tôn, thôn Triều Sơn, xã Xuân Thọ, tỉnh Đắk Lắk, Trưởng lão Hòa thượng Thích Đồng Tiến đã an nhiên thu thần viên tịch.
Ngài trụ thế 86 năm, trải qua 58 năm hạ lạp.
Sự viên tịch của Ngài là niềm kính tiếc sâu sắc đối với Giáo hội Phật giáo Việt Nam, chư Tôn đức Tăng Ni, môn đồ pháp quyến và đông đảo Phật tử gần xa.
IX. ĐẠO NGHIỆP CÒN LƯU, ĐÈN THIỀN TIẾP NỐI
Cuộc đời của Trưởng lão Hòa thượng Thích Đồng Tiến là hành trình bền bỉ của một người xuất gia lấy giới luật làm nền tảng, lấy giáo dục làm sự nghiệp, lấy hoằng pháp làm chí nguyện và lấy phụng sự làm lẽ sống.
Từ một chú tiểu chín tuổi rời mái nhà thế tục, Ngài đã trải qua những năm tháng cầu học, hành đạo, vượt qua bao chướng duyên của thời cuộc để trở thành bậc tôn túc có nhiều đóng góp cho Phật giáo tỉnh Phú Yên và Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Đạo nghiệp của Ngài không chỉ được ghi nhận qua những chức vụ đã đảm nhiệm, những ngôi tự viện được trùng tu, những thế hệ Tăng Ni được đào tạo hay hàng nghìn Phật tử được hướng dẫn quy y Tam bảo. Điều còn đọng lại sâu sắc hơn chính là đạo phong khiêm cung, giới đức trang nghiêm, đời sống thanh bần và tâm nguyện phụng sự không mỏi mệt.
Ngài đã sống một đời tận tụy với Tam bảo, gắn bó với quê hương, đồng hành cùng dân tộc và âm thầm vun bồi những hạt giống thiện lành cho nhiều thế hệ mai sau.
Thân tứ đại có hợp ắt có tan, cuộc đời có sinh ắt có diệt. Nhưng những giá trị được kiến tạo bằng giới đức, trí tuệ và lòng từ bi sẽ còn tiếp tục hiện hữu trong tâm thức của những người ở lại.
Dẫu bóng Tùng đã khuất, nhưng đạo phong vẫn còn; dẫu thân huyễn đã trở về với cát bụi, nhưng ngọn đèn Chánh pháp mà Ngài đã dày công gìn giữ và trao truyền vẫn tiếp tục được thắp sáng nơi hàng hậu học.
Môn đồ pháp quyến thành kính tưởng niệm Giác linh Trưởng lão Hòa thượng Thích Đồng Tiến – bậc tôn sư khả kính, một đời tận tụy vì Đạo pháp và Dân tộc.
