Chùa Phật Tích, còn có tên là chùa Vạn Phúc hay chùa Tiên Du ở chân núi Lạn Kha, xã Phật Tích, huyện Tiên Du. Nay là xã Phượng Hoàng, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, là đại danh lam thắng tích từ thời Lý. Tuy là đại danh lam, có lịch sử lâu đời, từng lưu truyền kho tàng tư liệu Hán Nôm đồ sộ. Song do thời gian và chiến tranh, tư liệu bị thất lạc nhiều. Số liệu tư liệu hiện biết so với một số đại danh lam khác thì thật sự không tương xứng với bề dầy lịch sử danh thắng này. Tư liệu về di tích này thường được biết đến qua một số bộ chính sử thời Lê, Nguyễn như Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Nam thực lục,… Ngoài ra, tư liệu Hán Nôm về chùa Phật Tích còn được đề cập rải rác trong một số bộ địa chí, cũng như trong văn bia hiện còn ở di tích. Bài viết này bước đầu tập hợp các tài liệu trên, qua đó góp phần nghiên cứu đầy đủ hơn về lịch sử di tích này.

1. Tài liệu địa phương chí

Danh thắng Phật Tích, được chép trong một số sách địa chí, như trong Bắc Ninh tỉnh chí, kí hiệu A.569, được dịch như sau:

Chùa Vạn Phúc (xã Phật Tích)

Chùa này ở sườn núi Lạn Kha, do vua Thánh Tông nhà Lý dựng. Trong chùa có tượng đá cao năm thước, to sáu thước, cạnh chùa có rất nhiều tháp đá. Từ Thức gặp nàng Giáng Tiên ở đây.

Sử chép: Khoảng niên hiệu Xương Phù nhà Trần, thi khoa Thái học sinh, niên hiệu Cảnh Hưng nhà Lê mở yến hội lớn, đều ở chùa này, cho nên người ta cho đây là nơi thắng tích.

Bắc Ninh toàn tỉnh địa dư chí, kí hiệu thư viện A.2889, chép về Núi Lạn Kha (huyện Tiên Du):

Nối liền với núi Nguyệt Thường. Ngọn núi có bàn cờ đá. Tương truyền có người tiều phu lên núi, gặp hai ông già bày trận cờ dưới bóng tùng, bèn chống rìu đứng xem, trận cờ tàn quay lại nhìn thì cán rìu đã mục nát. Cho nên đặt tên như thế. Trên núi có nhà đá, ao rồng (Long Trì). (Nhà đá ba gian, ba mặt đều là đá. Dưới gian nhà đá có ao thơm, bốn bên đều kè đá.)

Sườn núi có chùa cổ. (Chùa tên là Vạn Phúc). Cảnh trí u nhã. Tương truyền do triều Lý dựng nên. Từ Thức cởi áo chuộc tiên nữ tại đây.

(Truyện Chùa núi Lạn Kha chép trong Truyền kỳ lục: Tháng hai thường có hội hoa mẫu đơn, người xem rất đông. Có một cô gái xinh đẹp, bẻ cành mẫu đơn, bị tăng nhân trói lại. Vừa lúc Huyện doãn huyện Tiên Du tên là Từ Thức qua đây, cởi áo cầu114 chuộc cho. Sau Từ Thức từ quan, du lãm sơn thủy, đến động Thanh Hoa thì gặp người con gái ấy. Người con gái ấy là tiên nữ non Bồng.)

Lại theo tên xã gọi là núi Phật Tích. Còn có tên khác là núi Tiên Du. Sử ký chép Triệu Úy Đà đóng quân tại núi Tiên Du giao chiến với Thục An Dương Vương, chính là nơi này vậy. Theo Đại Minh lễ chí, núi Tiên Du là một trong 21 ngọn núi nổi tiếng của An Nam. Năm đầu niên hiệu Hồng Vũ [1368] ban chiếu cho tế giao cùng với núi sông Trung Quốc. Năm thứ 3 [1370] sai người sang [10b] xem xét, vẽ lấy hình thế mang về, non nước đẹp đẽ như vậy.

Phần cổ tích trong Bắc Ninh toàn tỉnh dư địa chí, quyển Hạ ghi:

Chùa Vạn Phúc: Thuộc xã Phật Tích, huyện Tiên Du. Chùa ở sườn núi Lạn Kha, do Lý Thánh Tông xây dựng. Ở giữa chùa có tượng đá, cao khoảng 5 thước, to khoảng 6 thước. Bên cạnh chùa có rất nhiều tháp cổ. Từ Thức gặp tiên ở nơi đây (đã chép rõ ở trên). Sử chép, trong những năm niên hiệu Xương Phù đời Trần, tổ chức thi Thái học sinh ở nơi đây. Đời Lê Cảnh Hưng đã tổ chức tiệc lớn cũng ở nơi đây. Đều vì nơi đây là nơi thắng cảnh đệ nhất.

Nguyễn Sưởng hiệu Thích Liêu thế kỷ XV, có đề thơ:

Tiên Du Vạn Phúc tự:

Phật thổ trang nghiêm xỉ vạn kim

Tùng phong xuy khởi hải triều âm

Vân tàng cổ tự sơn nam bắc

Tháp ỷ tằng tiêu thế cổ kim

Cấp giản quy tăng hành mộc diểu

Thính chung miên khách ý hoa âm

Lạn Kha vấn trước tiên kỳ sự

Thạch thượng đài y tích tiệm thâm

Nghĩa là:

Chùa Vạn Phúc ở Tiên Du

Chùa Phật trang nghiêm tốn vạn vàng

Thông reo gọi sóng triều vang

Mây vờn chùa cổ, mờ đầu núi

Tháp dựa mây xanh vút mấy tầng

Suối xiết sư về dò gậy bước

Nép hoa tiên khách mộng còn vương

Lạn Kha chuyện cũ ai tìm hỏi

Vách đá rêu đầy với nắng sương.

Nguyễn Trãi có bài thơ Vịnh cảnh chùa Tiên Du:

Đoản trạo hệ tà dương

Thông thông yết thượng phương

Vân quy thiền sáp lãnh

Hoa lạc giản lưu hương

Nhật mộ viên thanh cấp

Sơn không trúc ảnh trường

Cá trung chân hữu ý

Dục ngữ hốt hoàn vương

Nghĩa là:

Bóng xế thuyền con buộc

Vội lên lễ Phật đài

Mây về giường sái lạnh

Hoa rụng suối hương trôi

Chiếu tối vượn kêu rộn

Núi quang, trúc bóng dài

Ở trong dường có ý

Muốn nói bỗng quên rồi

(Đào Duy Anh dịch).

2. Văn bia chùa Phật Tích

Văn bia xây dựng chùa không nhiều, chủ yếu là bia tháp mộ, gồm các bia sau:

2.1. Hiển Quang tháp kí

Bia tháp, 1 mặt, khổ 55 x 85cm, kí hiệu thác bản Viện Nghiên cứu Hán Nôm, N.22516. Bia khắc năm Vĩnh Trị thứ 5 (1680).

Văn bia tháp Hiển Quang. Thiền sư vốn họ Đào, khi nhỏ theo Nho học, sau tu tập Phật Pháp. Sư thọ 77 tuổi, mất năm Canh Thân, tháng mạnh thu ngày 8. Gần đến ngày mất vào ngày mồng 1 tháng 7, sư ngâm bài kệ rằng:

Hành bộ nang truy hoài vạn thặng

Thủy thuyền phàm trạo tích thiên sai

Ngã hướng nhất gia thân khúc tử

Thùy dung trắc nhĩ thị nghê gia

Kim kê bão noãn hàm cố quốc

Thiết thụ thạch đầu dĩ khai hoa.

Sư đọc đi đọc lại, sau đó liền ba ngày không nói gì cả, đến ngày mồng 8 hỏi nay là ngày nào? Đệ tử thưa nay là ngày mồng 8. Nhà sư nói rằng xưa tổ không quá ngày rằm. Vậy cũng không quá được ngày này.

Bất tri sinh tử bất tương cán

Tư phát chuyển thông thiên khung

Kim thời ngô vãng thượng đầu khai.

Đọc xong, giờ Ngọ nhập điện hiệu Hiển Quang tháp ma kha tì khưu minh nghĩa, sắc phong Hoằng giác huệ trạch hiển đức quốc sư hoa thân bồ tát.

2.2.  Mật (Minh) Hành thiền sư am kí, kí hiệu thư viện: 22517

Bia 1 mặt, khổ 80 x 85cm, chân chạm hoa sen, 26 dòng, chữ Hán. Bia khắc năm Kỷ Mão, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 20 (1759),

Mật Hành thiền sư, pháp hiệu Diệu Hưng, hóa thân bồ tát. Ngài vốn tộc họ Nguyễn, thường đọc kinh Quan âm, mất tháng 7 năm Đinh Sửu. Pháp tử hiệu Diệu Thấm học trò đứng ra xây tháp, mua 4 sào ruộng

2.3. Phụng tự đoan bi ký/ Phổ Quang tháp bi ký, kí hiệu: 22518-19

Bia 2 mặt, khổ 55 x 120cm, 36 dòng, không hoa văn trang trí.

Bia dựng năm Vĩnh Trị thứ 5. Ghi quan viên hương lão già trẻ trên dưới hai giáp Đông, Đoài xã Phật Tích, huyện Tiên Du, phủ Từ Sơn có cổ tích danh lam là Vạn Phúc Thiền tự. Năm Cảnh Trị thứ 7 (1611), có Hoàng tôn Đại tỳ khưu ni Diệu Tuệ, sắc phong Thánh thiện bồ tát vân du đến xứ này thấy danh tích mà tôn sùng Phật pháp, cúng tiền cho bản xã xây tháp đá. Nhân đó Hoàng tôn dựng bảo tháp. Lại mua ruộng 3 mẫu 5 sào giao cho 2 giáp xã Phật Tích cày cấy phụng thờ.

Hải Dương Quảng An đẳng xứ trấn thủ Tả Thắng cai cơ quan thự vệ sự Luân Quận công Trịnh Tuyên quận chúa phu nhân Trịnh Thị Ngọc Đương vốn có thân cô là Tỳ khưu ni hiệu Diệu Tuệ, sắc phong Thánh Thiện bồ tát, xuất gia tu hành chùa Hưng Sùng, thấy bản xã Phật Tích có danh lam cúng dựng bảo tháp, mua ruộng 4 sào, 2 giáp Đông Đoài phụng thờ tổ sư.

2.4. Phổ Quang tháp bi ký, kí hiệu: 22520

Bia tháp chùa Vạn Phúc, 1 mặt, khổ 77x100cm, 40 dòng toàn văn chữ Hán. Văn bia do nhà sư người nước Đại Minh là Dật sư Tưởng Quang Đình soạn. Bia dựng năm Cảnh Trị thứ 2 (1664).

Văn bia kể lại sự nghiệp tu hành của công chúa pháp hiệu Diệu Tuệ, do bà Hoàng thái hậu họ Trịnh sinh ra. Công chúa đã lấy chồng, sống sung túc, nhưng mộ đạo Phật, được ông ngoại là chúa Trịnh Tráng yêu quý đã cho mời nhà sư Chính Giác về lập đạo tràng và dạy cho. Bà tu hành hơn 10 năm, khi Chính Giác viên tịch, bà được truyền y bát. Năm 49 tuổi, bà cho xây tháp Phổ Quang và mua ruộng giao cho xã cày cấy để phụng thờ hương hỏa. Quan viên chức sắc trong xã nhận ruộng và cam kết lo việc phụng thờ mãi mãi.

2.5. Thiên Trúc Viên Dung bi kí, kí hiệu: 22521.

Văn bia ghi dựng tháp Viên Dung năm Kỷ Mùi.

Ma kha khưu nậu tì khưu sắc phong Vô tế Hòa thượng, Phổ Minh bồ tát.

Dựng tháp Viên Dung để báo đáp ân sâu sư ma kha a nậu tỳ khưu.

Thiệu Long trụ trì Vạn Phúc địa thiền tổ sư.

2.6. Viên Quang tháp bi kí, kí hiệu: 22522

Bia tháp Viên Quang, khắc 1 mặt, khổ 68 x 95cm, 22 dòng, toàn văn chữ Hán, diềm dưới bia chạm hoa thú. Bia khắc năm Chính Hòa thứ 5 (1684).

Văn bia cho biết đây là bia mộ tháp nhà sư trụ trì chùa này là Lê Ngọc Nghênh tự Chân Phúc, người xã Tam Lư, huyện Lôi Dương, phủ Thiệu Thiên, xứ Thanh Hoa. Sau khi viên tịch, các đệ tử dựng tháp và an tàng xá lị tại tháp này. Tì khâu ni Diệu Huệ cúng ruộng 1 mẫu 2 sào giao cho xã hưng công Tam bảo.

2.7. Vạn Phúc tự bi, kí hiệu: 22523-24

Bia 2 mặt, khổ 75 x 120cm, toàn văn chữ Hán, mờ nhiều, chạm rồng hoa lá. Bia khắc năm Thành Thái thứ 10 (1898).

Bia ghi người công đức tu sửa chùa, có các vị chức sắc trong vùng như Tri phủ phủ Thuận An, Tri châu châu Bạch hạc, Giáo thụ phủ Bắc Hà, Thái y viện…

2.8. Vạn Phúc tự bi kí, kí hiệu: 15530-31

Bia 2 mặt, khổ 70 x 110cm, toàn văn chữ Hán, chạm rồng hoa lá. Bia khắc năm Thiệu Trị thứ 6 (1846).

Văn bia cho biết chùa Vạn Phúc được xây dựng từ đời Lý đến đời Lê được trùng tu, có lịch sử hơn 500 năm. Đây là một danh thắng, nhưng trải lâu ngày hư hỏng. Nay có quan Án sát bản tỉnh thăng Bố chánh sứ, Hưng Yên tuần phủ quan phòng là Nguyễn Công Tạc tới thăm chùa, thấy chùa đổ nát, hỏi dân làng biết dân nghèo không thể xây dựng được, nên đã đứng ra vận động góp tiền tu bổ chùa. Tháng 10 năm Ất Tỵ khởi công, mùa xuân năm Bính Ngọ hoàn thành, khắc bia ghi lại. Kê số ruộng chùa gồm 60 mẫu.

2.9. Vạn Phúc Đại thiền tự bi, kí hiệu: 2146-47

Bia chùa Vạn Phúc, khổ 112 x 173cm, 2 mặt, toàn văn chữ Hán, 33 dòng, chạm mặt trời, hoa lá. Bia dựng năm Chính Hòa thứ 7 (1686).

Chùa Phật Tích là thắng địa, có từ đời Lý, có bảo tháp cao nghìn trượng, ruộng Tam bảo hơn trăm mẫu, là nơi trụ trì của Chuyết Chuyết thiền sư. Sư mất ngày 15 tháng 7 năm Giáp Thân, đệ tử bảo quản thi thể. Đến năm Nhâm Dần, cung tần chiêu nghi họ Trần, hiệu Pháp Giới mới dựng tháp phụng thờ và tu sửa chùa to đẹp để báo đáp tổ sư. Kê số ruộng chùa.

3. Nhận xét

So với một số danh thắng từ thời Lý khác như chùa Thầy, chùa Phật Tích hiện còn khối lượng tư liệu Hán Nôm khá khiêm tốn. Tuy nhiên, tài liệu này hoàn toàn phù hợp với tài liệu chép trong chính sử, và là nguồn sử liệu quan trọng về lịch sử ngôi chùa này.

– Về lịch sử chùa, tài liệu Hán Nôm cũng như tư liệu trong chính sử đều cho biết chùa Phật Tích được khởi dựng vào năm Thái Bình thứ tư (1057) thời Lý Thái Tông. Tiếp đó, năm 1066, vua Lý Thánh Tông lại cho xây dựng một cây tháp cao. Thời Lý, chùa Phật Tích là một trung tâm Phật giáo nổi tiếng và là nơi cảnh quan tươi đẹp lại gắn với hàng loạt những câu chuyện huyền thoại, nên các vua Lý và sau này là các vua Trần thường xuyên lui tới thăm viếng.

Thời Lý, vua Lý Thánh Tông đến yết kiến chùa, tự tay viết chữ Phật dài 1 trượng sai khắc vào bia đá dựng trước chùa. Đến thời Trần, chùa đổi tên là Vạn Phúc. Vua Trần cũng đến, vua Trần Nghệ Tông cho dựng điện Bảo Hòa và thư viện Lạn Kha ở gần chùa, thường đến đọc sách, nghỉ ngơi. Tại đây, vua Trần Nhân Tông đã sáng tác tập thơ Bảo Hoa dư bút gồm 8 quyển. Vào năm Xương Phù thứ 8 (1384), vua Trần Nghệ Tông đã dùng chùa này làm nơi thi Thái học sinh.

Đến thời Lê trung hưng, chùa và tháp đổ nát, Hoàng hậu Nguyễn Thị Ngọc Ánh và cung tần góp tiền công đức, dựng chùa mới trên nền chùa cũ vào năm Bính Dần, niên hiệu Chính Hòa (1686).

Khi này, chùa được xây dựng lại với quy mô rất lớn như đoạn văn bia ghi lại sau: “Trên đỉnh núi mở ra một tòa nhà đá, bên trong sáng như ngọc lưu ly. Điện ấy đã rộng lại to, sáng sủa lại kín. Trên bậc thềm đằng trước có bày mười con thú lớn bằng đá, phía sau có Ao Rồng, gác cao vẽ chim phượng và sao Ngưu, sao Đẩu sáng lấp lánh, đầu rồng và tay rồng với tới trời sao”.

Chùa được kiến trúc theo kiểu “nội công ngoại quốc”, sân chùa là cả một vườn hoa mẫu đơn rực rỡ. Bên phải chùa là miếu thờ Đức chúa, Đệ nhất cung tần của chúa Trịnh Tráng tu ở chùa này. Bà chẳng những có công lớn trùng tu chùa mà còn bỏ tiền cùng dân 13 thôn dựng đình. Bên trái chùa chính là nhà tổ đệ nhất thờ Chuyết Chuyết Lý Thiên Tộ. Ông mất tại đây năm 1644, thọ 55 tuổi, hiện nay chùa còn giữ được pho tượng của Chuyết Công đã kết hỏa lúc đang ngồi thiền. Phía sau chùa là khu vườn tháp gồm 39 ngọn xây bằng gạch và bằng đá (nay còn 34 ngọn).

– Các ngôi tháp này chính là tháp mộ của các vị tổ chùa khá mổi tiếng, như tháp Hiển Quang, tháp Mật Hành, tháp Phổ Quang, tháp Viên Dung, tháp Viên Quang. Trong số đó, có Tỳ khưu ni hiệu Diệu Tuệ, sắc phong Thánh Thiện bồ tát vốn là công chúa do bà Hoàng thái hậu họ Trịnh sinh ra. Công chúa đã lấy chồng, sống sung túc, nhưng mộ đạo Phật, tu hành và được nhà sư Viên Giác truyền y bát cho. Bà có nhiều công sức xây tháp tổ chùa và cúng ruộng hương hỏa cho chùa.

Ngoài ra là tháp Tháp Viên Quang, tháp mộ nhà sư vốn có tên tục là Lê Ngọc Nghinh, tự Chân Phúc, người xã Tam Lư, huyện Lôi Dương, phủ Thiệu Thiên, xứ Thanh Hoa. Tháp Viên Quang, khi tu sửa, người ta phát hiện cuốn sách đồng gồm 2 tờ 4 trang khổ 12 x 19cm, trên khắc kinh Bát nhã Ba la mật đa tâm kinh. Đây là bộ kinh trong kinh sách Đại thừa được yểm trong mộ tháp. Cũng như trên ngọn tháp chùa Bút Tháp mới phát hiện bộ sách đồng khắc kinh Phật.

Chùa Phật Tích nằm gần sát chùa Dâu, trung tâm Phật giáo trong nhiều thập kỷ. Vào đầu thế kỷ XVI, chùa Phật Tích cùng với chùa Bút Tháp là cái nôi của dòng thiền Lâm Tế. Năm 1633, Thiền sư Chuyết Chuyết và đệ tử Minh Hành từ phương Bắc phiêu dạt sang phương Nam, tới kinh đô Đại Việt. Thầy trò thiền sư đã được vua Lê, chúa Trịnh cùng hoàng thân quốc thích Lê triều mộ đạo sùng tín. Tổ sư Chuyết Chuyết về trụ trì chùa Phật Tích sau mới chuyển sang trụ trì chùa Bút Tháp. Vì thế tại khu mộ tháp chùa Phật Tích có cả tháp mộ Thiền sư Chuyết Chuyết và đệ tử Minh Hành.

So với một số đại danh lam khác, thì tư liệu Hán Nôm về chùa Phật Tích hiện còn là khá khiêm tốn. Cần sưu tập mọi nguồn tài liệu gốc, trong đó có các nguồn tư liệu Hán Nôm ở tại di tích, như các văn tự trên các mộ tháp, mà hiện tại mới chỉ biết được năm sáu văn bản như nêu trên. Đồng thời tổ chức khảo cứu, dịch chú để có tập tư liệu hoàn chỉnh về ngôi chùa thời Lý đặc sắc này.

Tác giả bài viết: PGS.TS ĐINH KHẮC THUÂN
(Viện Nghiên cứu Hán Nôm)

Nguồn: Hội thảo Khoa học: “Phật Tích trong tiến trình lịch sử”;
Viện nghiên cứu tôn giáo, Viện nghiên cứu phật học
phối hợp Trường Đại học Mỹ thuật tổ chức Hội thảo khoa học vào ngày 10/5/2011,
tại Chùa Phật Tích (thôn Phật Tích, xã Phật Tích, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh)


114. Nguyên văn: Cừu y: áo may bằng lông cáo, ở đây chỉ ý là áo đắt tiền, áo quý.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Bài viết cùng chuyên mục:

Tứ diệu đế với vấn đề giáo dục đạo đức toàn cầu
Luận, Phật học, Văn hóa

TÓM TẮT Tứ diệu đế hay là bốn chân lý vĩ đại của Phật giáo chính là cốt tủy cơ bản để hợp thành học thuyết nhân sinh cứu đời. Đó là kết quả suy ngẫm và trải nghiệm thông qua thực tiễn cuộc sống của chính Phật tổ và sự tổng kết những suy...

Giải mã Phật viện Đồng Dương nhìn từ cấu trúc của Thai tạng giới mạn-đà-la Mật tông.
Lịch sử, Nghiên cứu, Văn hóa

Phế  tích Đồng Dương (1) là tổ hợp kiến trúc đền-tháp Phật giáo quan trọng nhất của vương quốc Champa, hiện tọa lạc tại xã Bình Định Bắc, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Phế tích đồ sộ này đã được Henri Parmentier và Charles Carpeaux khai quật trong thời gian từ ngày 07-9-1902 đến...

Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử và Thiền phái Liễu Quán – Những nét tương đồng
Lịch sử, Nghiên cứu

TÓM TẮT Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử là thiền phái Phật giáo yêu nước, nhập thế, kết hợp chặt chẽ giữa đời và đạo, đạo với đời. Vào thế kỷ XVII-XVIII, hệ tư tưởng của thiền phái Trúc Lâm lại có điều kiện tỏa sáng trong đời sống người dân. Hệ tư tưởng này...

Tư tưởng nhập thế của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử trong sự nghiệp đoàn kết, xây dựng và phát triển đất nước
Luận, Nghiên cứu, Văn hóa

Tóm tắt: Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ thế kỉ thứ I trước Công nguyên và đồng hành trong đời sống tinh thần của dân tộc. Tuy nhiên, đến thế kỷ 13 khi xuất hiện Thiền phái Trúc Lâm mà vua Trần Nhân Tông là vị tổ sư khai sáng thì Phật giáo...

Tinh thần nhập thế, hộ quốc an dân và công hạnh các bậc cao tăng trong lịch sử
Nghiên cứu, Văn hóa

Tinh thần nhập thế của Phật giáo đã có từ thời Mâu Tử, nhưng dưới thời Vua Trần, thì được phát triển mạnh mẽ nhất. Đặt nền móng cho tinh thần nhập thế ấy là khi tướng Trần Thủ Độ nói với Vua Trần Thánh Tông: “Tôi dám nói rằng bệ hạ vì sự tự...

Ảnh hưởng của Phật giáo trong văn học chữ Nôm giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX
Lịch sử, Nghiên cứu, Văn hóa

Giai đoạn lịch sử xã hội đầy biến chuyển, phản ảnh đời sống con người văn học chữ Nôm giai đoạn này cũng đã ghi nhận vào mình khá đầy đủ mọi phương diện về đời sống tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng. Đời sống ấy được quy chiếu vào văn thơ...

Tôn Sư trọng Đạo – dưới góc nhìn của đạo Phật
Nghiên cứu, Văn hóa

Nói đến truyền thống Tôn sư trọng đạo là nói đến mối quan hệ tương tức và tương nhập. Đây là mối quan hệ cùng nhau, nếu thiếu hay tách biệt sẽ không tồn tại. Có cả thầy và trò trong mối quan hệ trong nhau, cùng nhau, để hiện hữu, chuyển tải và hóa Đạo...

Tìm hiểu trai đàn Giải oan Bạt độ trong nghi lễ Phật giáo xứ Huế
Nghiên cứu, Văn hóa

Trai đàn Giải oan bạt độ là một pháp phương tiện. Nó nhắc nhở mỗi con người nên tự thân ý thức về những hành nghiệp của mình, đừng để gây ương lụy để rồi thọ khổ quả, đó là ý nghĩa “lấy việc độ tử mà độ sinh” trong Đạo Phật. Dẫn nhập: Nghi lễ...

Vai trò của Hòa thượng Giác Tiên đối với phong trào chấn hưng Phật giáo ở Trung Kỳ
Lịch sử, Nghiên cứu

Mở đầu Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ rất sớm, với sứ mệnh “đồng hành” cùng dân tộc cũng bắt đầu từ đó. Vì vậy, sự hưng suy của một quốc gia cũng chính là những nốt nhạc “trầm bổng” của đạo Phật. Nó đã được giới thiệu vào thời hoàng kim của...

Lễ Sóc, Vọng trong lịch sử
Lịch sử, Nghiên cứu, Văn hóa

Hàng tháng, mỗi ngày Rằm, mùng Một Âm lịch, người Việt có thói quen thắp hương nhằm thỉnh cầu các vị thần linh, tổ tiên phù hộ cho bình an, hạnh phúc, may mắn… Lịch âm được xây dựng trên cơ sở quan sát chu kỳ, vị trí của Mặt Trăng so với Trái Đất....

Hệ phái Khất sĩ: Quá trình phát triển và những đóng góp
Lịch sử, Nghiên cứu

Tóm tắt Đạo Phật Khất sĩ Việt Nam xuất hiện trong một giai đoạn đặc biệt của đất nước khi bị bảo hộ của Pháp. Xã hội tồn tại hai sắc thái rõ rệt. Nông gia và thành thị. Do tính tương phản của văn hóa và nếp sống đó, một thời gian dài xã hội...

Thiền phái Liễu Quán: Sự truyền thừa và phát triển
Lịch sử, Nghiên cứu

Tóm tắt: Thiền phái Lâm Tế Trung Quốc du nhập vào  Đàng Trong Việt Nam  nửa cuối thế kỷ XVII qua bước chân hoằng hóa của chư Tổ sư người Hán. Kế thừa truyền thống chư Tổ thiền phái Trúc Lâm Việt Nam; Thiền sư Liễu Quán (1667-1742) sau khi đắc pháp với Đại sư Minh...

Tư tưởng thiền phái Tào Động Trung Hoa và ở Việt Nam
Lịch sử, Nghiên cứu

Dẫn nhập Phái Tào Động được thành lập vào khoảng cuối đời Đường. Thiền sư Động Sơn Lương Giới tu học và đắc đạo nơi thiền sư Vân Nham Đàm Thịnh. Thiền sư đến hoằng pháp tại Đông Sơn Phổ Lôi Thiền Tự ở Giang Tây, phát huy tông phái lớn mạnh, sáng lập giáo...

Lịch sử hình thành và bản chất của giáo hội Phật giáo cổ truyền Việt Nam
Lịch sử, Nghiên cứu

1. Lịch sử hình thành Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam Lịch sử đã ghi nhận Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam ra đời vào năm 1969 (Kỷ Dậu) là hậu thân của các tổ chức “Lục Hòa Liên Xã” (ra đời vào năm 1922), “Hội Phật giáo cứu quốc Nam...

Trang trí hoa văn chữ Vạn tại lăng Khải Định – Huế
Kiến trúc-Mỹ thuật, Nghiên cứu

Trang trí hoa văn chữ Vạn ở lăng Khải Định – Huế là một ví dụ cụ thể, bên cạnh các yếu tố thẩm mỹ, nó còn thể hiện một đời sống tâm hồn giàu chất mỹ cảm nguyên sơ mà phong phú, hòa quyện với đời sống tâm linh mang màu sắc Phật giáo...

Tiếp biến văn hóa Việt-Chăm và Việt-Hoa nhìn từ chùa Việt ở Khánh Hòa
Nghiên cứu, Văn hóa

Tóm tắt: Từ xưa đến nay, chùa Việt ở Khánh Hòa không chỉ thỏa mãn nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo, mà nó còn góp phần gìn giữ, trao truyền các giá trị văn hóa truyền thống cũng như phản ánh sắc thái địa phương. Chùa Việt ở Khánh Hòa ngoài thờ Phật còn dung hòa...