Tứ nhiếp pháp là một Pháp trong nhà Phật; nếu thực hành theo, ta sẽ thu phục và lãnh đạo được đông đảo đại chúng. Không chỉ vậy, nhờ thực hành Tứ nhiếp pháp, chúng ta cũng sẽ được nhiều người yêu mến, hạnh phúc và phát triển dù ở bất cứ đâu.

Tứ nhiếp pháp là gì?

Trong Phật học, Tứ nhiếp pháp là bốn pháp tế độ để cảm hóa quần chúng, lãnh đạo được số đông và khiến họ quy thuận. Bốn phương pháp này gồm bố thí nhiếp, ái ngữ nhiếp, lợi hành nhiếp và đồng sự nhiếp.

1. Bố thí nhiếp

Bố thí nhiếp gồm ba loại: tài thí, Pháp thí và bố thí vô úy.

Tài thí – tức bố thí bằng tài vật, ta có thể dùng tiền bạc, của cải (ngoại thí) và xương, máu, thịt (nội thí) của mình để giúp đỡ mọi người.

Pháp thí tức là ta thực hành bố thí bằng việc giúp người biết được tri kiến của Phật, hướng dẫn họ tu tập bớt khổ.

Còn bố thí vô úy – là khi ta dùng kiến thức của mình giúp người đang sợ hãi thoát khỏi nỗi lo lắng, hoặc là khi ta biết động viên và chia sẻ để họ vượt qua đau khổ, khó khăn.

2. Ái ngữ nhiếp

Ái ngữ là những lời nói chân thật, hài hòa và mang đến lợi ích cho người. Trong Chuyện Con Bò Đại Hỷ, chương Một, phẩm Kurunga, kinh Tiểu Bộ tập 4, Đức Phật dạy:

“Chỉ nói lời từ hòa,

Không từ hòa, không nói.

Ai nói lời từ hòa,

Kéo đi được gánh nặng,

Khiến nó được tài sản.

Do vậy, nó ưa thích.”

“Từ” là có tâm từ bi, tức lời nói của mình có tâm từ bi; “lời từ hòa” là lời nói làm cho mối quan hệ giữa mình với người có sự thông cảm, chia sẻ và gắn kết với nhau. Việc thực hành ái ngữ nhiếp sẽ đưa đến quả phước tốt đẹp.

Tuy vậy, vì kho văn từ còn hạn hẹp và thói quen giao tiếp theo cảm xúc đã được hình thành từ nhỏ, nên chúng ta chưa biết linh hoạt trong cách sử dụng ngôn từ hài hòa, tốt đẹp để mang lại cảm giác dễ chịu cho người nghe. Thay vào đó, chúng ta thường chỉ nói và lắng nghe nhau bằng tâm chân thật. Để nói được lời từ hòa, người này phải học rộng, nghe nhiều và đưa ra các phương pháp tập ứng xử, cố gắng duy trì trong đời sống hàng ngày.

3. Lợi hành nhiếp

Lợi hành nhiếp là những suy nghĩ, lời nói và hành động thiết thực, làm lợi ích cho chúng sinh. Tức là chúng ta có tinh thần phụng sự chúng sinh, mà trong kinh Hoa Nghiêm có nói “…Nếu có thể tùy thuận chúng sanh, thì tức là tùy thuận cúng dường các đức Phật”. Ví như, chúng ta phát tâm đắp đường, bắc cầu, nấu cơm từ thiện, xây nhà tình nghĩa, cắt thuốc, bốc thuốc cho dân, đào giếng, làm nhà trọ… Hay trong tu tập, lợi hành nhiếp là sự động viên, sách tấn giúp người được tinh tấn.

4. Đồng sự nhiếp

Đồng sự nhiếp là khi chúng ta cùng mọi người làm việc; hướng dẫn, chia sẻ và giúp đỡ để họ được lợi ích. Trong đạo tràng, đồng sự nhiếp được thể hiện qua việc ta hướng dẫn mọi người làm phận sự cũng như giúp họ biết tụng kinh, lễ bái, sám hối, nghe Pháp để chuyển hóa nghiệp.

3 lợi ích khi thực hành Tứ nhiếp pháp

1. Thâu nhiếp đại chúng

Trong Kinh Cư Sĩ Tối Thắng Về Nhiếp Phục Hội Chúng (Nam Cư Sĩ Hatthaka) – kinh Tăng Chi Bộ có nói nguyên nhân nam cư sĩ Hatthaka thâu nhiếp được hội chúng lớn lên đến 500 người là nhờ áp dụng Tứ nhiếp pháp. Và trong bài kinh, Đức Phật cũng khẳng định: Dù trong quá khứ, hiện tại hay vị lai, bất kỳ ai muốn lãnh đạo và có được đại chúng đông đảo thì đều phải thực hành bốn nhiếp pháp này.

“- Bạch Thế Tôn, có bốn nhiếp pháp này được Thế Tôn thuyết giảng. Con thâu nhiếp hội chúng này với những nhiếp pháp ấy. Bạch Thế Tôn, khi con biết rằng: “Người này cần phải thâu nhiếp nhờ bố thí”, thời con thâu nhiếp người ấy với bố thí. Khi con biết rằng: “Người này cần phải thâu nhiếp nhờ ái ngữ”, thời con thâu nhiếp người ấy với ái ngữ. Khi con biết rằng: “Người này cần phải thâu nhiếp nhờ lợi hành”, thời con thâu nhiếp người ấy với lợi hành. Khi con biết rằng: “Người này cần phải thâu nhiếp nhờ đồng sự”, thời con thâu nhiếp người ấy với đồng sự.

– Lành thay, lành thay, này Ha-tha-ka! Đây là nguyên lý để thâu nhiếp đại chúng! Này Ha-tha-ka, những ai trong quá khứ đã thâu nhiếp đại chúng, tất cả đều thâu nhiếp đại chúng với bốn nhiếp pháp này. Này Ha-tha-ka, những ai trong tương lai sẽ thâu nhiếp đại chúng, tất cả sẽ thâu nhiếp đại chúng với bốn nhiếp pháp này. Này Ha-tha-ka, những ai trong hiện tại thâu nhiếp đại chúng, tất cả họ đều thâu nhiếp đại chúng với bốn nhiếp pháp này.”

2. Ở bất cứ đâu cũng được an vui, hạnh phúc và phát triển

Đức Phật dạy: Ai thực hành Tứ nhiếp pháp thì gia đình được an ổn, với bạn bè được an vui và ở bất cứ đâu cũng được hạnh phúc, phát triển.

3. Chuyển hóa nghiệp hay bị ghen ghét, đố kỵ

Việc bị người ganh ghét là do trong quá khứ, ta có tính toán khi đến gần người khác, ỷ lại khi làm việc, nói lời không đúng về người và chỉ nghĩ đến lợi ích riêng. Dùng Tứ nhiếp pháp giúp chuyển hóa quả báo đó ngay trong đời này, đồng thời giúp ta có đông bạn bè, được yêu quý hơn.

Gieo nhân để thực hành được Tứ nhiếp pháp

Một người muốn thực hành Tứ nhiếp pháp và có hội chúng đông đảo thì cần phải có 8 nhân duyên sau:

1. Có lòng tin Tam Bảo

Nhân thứ nhất là cần có lòng tin với Phật, Pháp, Tăng (Tam Bảo). Nếu không có lòng tin, ta không thể chuyển tải Phật Pháp và bố thí Pháp được. Cho nên, muốn thành tựu được Tứ nhiếp pháp, nhân đầu tiên phải gieo là có lòng tin nơi Tam Bảo.

2. Có giữ giới

Nhân thứ hai là có giữ giới. Người chăm giữ giới thì mới có thể phát sinh kết quả là thực hành được trọn vẹn Tứ nhiếp pháp.

3. Có lòng xấu hổ

Nhân thứ ba là có lòng xấu hổ (tàm quý). Nếu không có lòng xấu hổ, ta không thể sám hối, rút kinh nghiệm và chuyển hóa lỗi lầm khi bản thân có lời nói hoặc hành động chưa đúng, không tương ưng với Pháp. Vậy nên tâm tàm quý là tâm vô cùng quan trọng và là nhân cần phải gieo để được quả là Tứ nhiếp pháp.

4. Có lòng sợ hãi

Bên cạnh việc có lòng tin, chúng ta cũng cần có tâm sợ hãi tội lỗi và quả báo. Nếu ta không sợ hãi mà luôn bao biện cho lỗi lầm, thì đại chúng sẽ không phục mình được. Vì vậy, khi làm điều không đúng, ta phải nói với mọi người là mình có lỗi và mình rất sợ quả báo không tốt từ lỗi đó. Người có tâm sợ hãi tội lỗi, sợ hãi quả báo như vậy mới nhắc được đại chúng.

5. Nghe nhiều

Một nhân duyên nữa để thành tựu được Tứ nhiếp pháp là phải nghe nhiều. Đặc biệt trong Phật Pháp, khi nghe nhiều, chúng ta mới có thể dùng kiến thức của mình để khuyên bảo, giúp người bớt sợ hãi và được an vui. Việc làm này chính là bố thí vô úy, cứu khổ ban vui. Bên cạnh đó, nghe nhiều Phật Pháp cũng giúp ta hiểu như thế nào là tà kiến. Từ đó, ta có thể lập luận, chia sẻ với mọi người, khiến họ rời bỏ các tư tưởng tà kiến và sinh lòng tin với Tam Bảo.

Chẳng hạn, có người nói: “Tôi được ban phước”. Khi đó, ta sẽ lập luận rằng: Nếu thực sự có một người được gọi là “cha của chúng sinh”, có thể ban phước được thì vị này không thể bất công như vậy. Cũng như trong một gia đình, cha mẹ luôn chia đều tài sản cho các con; vậy tại sao “cha của chúng sinh” lại để cho kẻ chịu khổ cực, người sống sung sướng; kẻ mang bệnh tật, người thì khỏe mạnh?

6. Bố thí

Để thành tựu viên mãn Tứ nhiếp pháp, chúng ta phải thực hành được ba pháp bố thí: tài thí, Pháp thí và bố thí vô úy.

7. Có trí tuệ

Có trí tuệ nghĩa là biết phân biệt thiện – ác, hiểu rõ nhân quả và có khả năng cắt đứt phiền não (tức tham dục, bất thiện).

Ví dụ, nhờ học Phật Pháp, ta hiểu rằng chấp thủ là khổ nên cần hướng tới buông bỏ. Hoặc khi thấy lời nói cộc cằn gây nhiều bất lợi, ta phải có ý định đoạn trừ thói quen ấy. Đó gọi là có trí tuệ.

8. Ít dục

Định nghĩa của dục là ham muốn và ưa thích. Ví dụ, người con trai nhìn thấy cô gái đẹp, họ sẽ có tâm ham thích, ưa muốn sở hữu mối quan hệ với người đó. Và dần dần tà tâm sẽ khởi ra từ sự ưa thích đó.

Việc sở hữu quá nhiều tài sản cũng là một ví dụ điển hình cho tâm ham muốn dục. Thực tế, mỗi người chỉ cần một ngôi nhà để ở, một bữa ăn đủ no và một phương tiện việc đi lại phù hợp. Song, vì ham thích quá lớn, chúng ta thường tích lũy nhiều sổ đỏ, ô tô hay xe máy hơn nhu cầu thực tế (không tính trường hợp sử dụng để phục vụ quảng cáo và phát triển kinh doanh). Ngoài ra, ham muốn những điều người khác có mà chúng ta không có cũng khiến khởi tâm đố kỵ.

Qua đó thấy được người nhiều dục hay gặp điều bất như ý; mà bất như ý thường sinh phiền não. Cho nên, sống ít muốn biết đủ sẽ giúp ta nhẹ bớt những điều đó. Như trong Kinh Tám Điều Giác Ngộ Của Bậc Đại Nhân có viết: “Tham muốn nhiều là khổ, bao sinh tử nhọc nhằn, đều từ tham dục khởi, nếu ít muốn biết đủ, thân tâm được tự tại”.

Ít muốn biết đủ sẽ giúp ta nhẹ bớt phiền não trong cuộc sống (ảnh minh họa)
Ít muốn biết đủ sẽ giúp ta nhẹ bớt phiền não trong cuộc sống (ảnh minh họa)

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Bài viết cùng chuyên mục:

Bát kỉnh Pháp là gì? Giải mã 8 điều kiện người nữ xuất gia theo lời Phật dạy
Kiến thức

Bát kỉnh Pháp (八敬法) (tám Pháp tôn sư) là tám điều kiện bắt buộc do Đức Phật chế định dành riêng cho nữ giới khi muốn gia nhập Tăng đoàn – Tỳ-kheo Ni phải luôn nuôi dưỡng lòng cung kính đối với Tỳ-kheo Tăng. Đây không phải là sự trọng nam khinh nữ, mà Bát...

Khất thực là gì? Quy cách và ý nghĩa của việc khất thực
Kiến thức

Khất thực được xem là truyền thống và pháp hành cao quý mười phương chư Phật và chư vị Tăng Ni. Vậy khất thực là gì? Quy cách và ý nghĩa của việc khất thực như thế nào? Nội dung bài viết dưới đây sẽ giải đáp cụ thể nhất cho quý bạn đọc về...

Lời Khấn Nguyện Trước Khi Đi Ngủ Giúp Tâm An, Ngủ Ngon Mỗi Đêm
Kiến thức

Lời khấn nguyện trước khi đi ngủ giúp tâm an tịnh, buông bỏ lo âu, ngủ ngon sâu giấc. Bài kệ Phật giáo nhẹ nhàng, dễ tụng mỗi tối. Mục lục bài viếtTứ nhiếp pháp là gì?1. Bố thí nhiếp2. Ái ngữ nhiếp3. Lợi hành nhiếp4. Đồng sự nhiếp3 lợi ích khi thực hành Tứ...

Phật giáo Nam Tông và Bắc Tông: Sự khác nhau và cách phân biệt
Kiến thức

Phật giáo Nam Tông và Bắc Tông có gì khác biệt? Đây là chắc hẳn là thắc mắc của rất nhiều bạn. Để hiểu rõ hơn về vấn đề này chúng ta hãy cùng tìm hiểu ngay trong bài viết dưới đây nhé! Phật giáo là một trong những tôn giáo lớn nhất trên thế...

Theo quan điểm Phật giáo, nhà có tang thì có đi chúc Tết được không?
Kiến thức

Mỗi độ xuân về, câu hỏi này lại được nhiều người nhắc đến. Có gia đình tự “cữ” không đi chúc Tết vì sợ mang điều không may. Có nơi còn kiêng người đang có tang bước vào nhà mình đầu năm vì lo “xui”, “mất lộc”. Vậy dưới ánh sáng Phật pháp, điều ấy...

Những điều nên làm đầu năm để cả năm bình an và may mắn
Kiến thức

Đầu năm mới không chỉ là thay cuốn lịch, mà là dịp đặt lại hướng sống. Theo quan niệm Á Đông và tinh thần Phật giáo, những việc ta làm trong những ngày đầu năm sẽ tạo nên “nhân duyên” cho cả năm phía trước. Vì vậy, thay vì chỉ cầu tài lộc, hãy bắt...

Tánh Không là gì? Hiểu đúng và ứng dụng Tánh Không trong đời sống tu tập
Kiến thức

Trong hành trình tìm hiểu Phật giáo, có lẽ không có khái niệm nào vừa sâu sắc, vừa dễ bị hiểu sai như Tánh Không. Nhiều người khi nghe đến “Không” thường nghĩ rằng đó là hư vô, phủ nhận vạn vật hay buông bỏ tất cả. Nhưng trong giáo lý Đức Phật, Tánh Không...

Ý nghĩa bát cơm quả trứng đặt đầu giường người mất trong tang lễ Việt Nam
Kiến thức

Trong dòng chảy văn hóa tâm linh của người Việt, mỗi phong tục trong tang lễ đều ẩn chứa những tầng ý nghĩa sâu xa về đạo hiếu, lòng tri ân và quan niệm về sinh tử. Trong đó, hình ảnh bát cơm, quả trứng và đôi đũa đặt đầu giường người mất là một...

Lễ tế đồ trung là gì? Nghi thức ngã ba đường trong thọ mai gia lễ
Kiến thức

Thư Viện Phật Quang xin giới thiệu đến quý độc giả một nghi thức đặc biệt trong phong tục tang lễ truyền thống của người Việt: Lễ Tế Đồ Trung. Đây là một phần quan trọng trong Thọ Mai Gia Lễ – bộ sách cổ nổi tiếng về gia lễ Việt Nam, được lưu truyền...

Lục Độ Ba La Mật là gì? Nguồn gốc và ý nghĩa của Lục Độ Ba La Mật
Kiến thức

Trong giáo lý Phật giáo Đại thừa, “Lục Độ” hay “Lục Ba La Mật” được xem là pháp môn cốt lõi trên con đường tu tập của hàng Bồ-tát. Thuật ngữ “Ba La Mật” dịch nghĩa là “đáo bỉ ngạn” – tức là phương pháp giúp hành giả vượt từ bờ mê sang bờ giác,...

Nguồn gốc và ý nghĩa Lễ dâng y Kathina trong Phật giáo Nam tông
Kiến thức

Trong Phật giáo Nam tông, lễ dâng y Kathina là một trong những nghi lễ quan trọng nhất. Đây không chỉ là dịp để Phật tử thể hiện lòng thành kính và hộ trì Tam Bảo mà còn là một truyền thống được duy trì liên tục từ thời Đức Phật. Lễ hội được tổ...

Tìm hiểu 10 Đại hạnh của Phổ Hiền Bồ Tát
Kiến thức

Trong kinh điển Phật giáo, Phổ Hiền Bồ Tát là một trong Tứ Đại Bồ Tát nổi danh, đại diện cho hạnh nguyện và hành động. Nếu Văn Thù Bồ Tát là biểu tượng của trí tuệ thì Phổ Hiền Bồ Tát chính là hiện thân của sự thực hành, của những lời thệ nguyện...

Mười hai loại cô hồn trong khoa nghi Chẩn tế cô hồn của Phật giáo
Kiến thức

Chẩn tế cô hồn là một nghi thức mang đậm tinh thần từ bi của Phật giáo, nhằm cứu độ và an ủi những vong linh vất vưởng. Bài viết sẽ giới thiệu chi tiết về mười hai loại cô hồn trong khoa nghi này. Trong quan niệm Phật giáo, tháng Bảy Âm lịch là...

Mông sơn thí thực: Nguồn gốc, ý nghĩa và công đức
Kiến thức

Mông Sơn Thí Thực là nghi thức Phật giáo thể hiện lòng từ bi, hướng đến việc trợ duyên cho các vong linh chưa siêu thoát được an ổn và tiếp nhận ánh sáng giác ngộ, góp phần nuôi dưỡng tâm thiện lành nơi người thực hành. Mục lục bài viếtTứ nhiếp pháp là gì?1....

Câu chuyện về nghi thức “Bông hồng cài áo” mỗi mùa Vu Lan
Kiến thức

Nghi thức “Bông hồng cài áo” khởi nguồn từ một đoản văn đầy xúc động về Mẹ của Thiền sư Thích Nhất Hạnh từ hơn 60 năm trước. Mục lục bài viếtTứ nhiếp pháp là gì?1. Bố thí nhiếp2. Ái ngữ nhiếp3. Lợi hành nhiếp4. Đồng sự nhiếp3 lợi ích khi thực hành Tứ nhiếp...

Cấp Cô Độc: Biểu tượng tối thượng của từ bi và hạnh cúng dường
Kiến thức

Cấp Cô Độc không chỉ là hình ảnh một vị trưởng giả giàu lòng từ bi và cúng dường vô điều kiện, mà còn là biểu tượng sống động của tinh thần sẻ chia trong Phật giáo. Câu chuyện đời ông không chỉ là huyền thoại, mà còn là bài học sâu sắc về nhân...

Ads Blocker Image Powered by Code Help Pro

Đã phát hiện trình chặn quảng cáo!!!

Chúng tôi đã phát hiện thấy bạn đang sử dụng tiện ích mở rộng để chặn quảng cáo. Vui lòng hỗ trợ chúng tôi bằng cách vô hiệu hóa các trình chặn quảng cáo này.