Những con sóng bạc trường giang lắng mình, trở về hội ngộ cõi uyên nguyên huyền ảo, cõi ban sơ hoa hạnh ngân dài. Không gian tĩnh lặng. Hết thảy mọi tinh thể lần lượt hiển hiện như tự thân ban đầu của nó. Những cánh nhạn vút qua rồi lặng lẽ. 

Phong lai sơ trúc, phong khứ nhi trúc bất lưu thanh. Nhạn quá hàn đàm, nhạn khứ nhi đàm vô ảnh hiện. Sự sống trở nên uyên mặc. Những tia nắng bừng lên, hội nhập từng hạt ánh sáng soi chiếu vào vạn vật. Những chiếc lá với bao nét gân xanh; những cánh chuồn mong manh rớt từng tia nắng, phô bày một mảnh thiên y tuyệt diễm. Cuộc đời không còn mờ ảo, bí hiểm dâu bể ngút ngàn. Kiếp người hiện ra đích thực như thị. Ánh sáng nhân duyên trong suốt, soi qua mọi vật thể, rọi mọi nơi tuyệt mù sương khói mênh mang…

Những vết hằn rõ nét trên đôi mắt chàng lãng tử, năm tháng bôn ba trong cuộc lữ duyên tình. Bao nhiêu sợ hãi, ước vọng về tình yêu, về cuộc sống hội tụ và trở nên sức sống phiêu bồng trong dòng chảy mênh mang của kiếp người, trong cõi nhân gian hòa quyện cùng mưa nắng. Những sợi tơ trời lung linh huyền ảo thả mình, buông nắng. Con người cất lên tiếng nói chứa chan nỗi niềm dâu bể; một cung đàn phổ điệu tình ca phóng vút qua muôn sông ngàn suối, vượt quán xá chiều hôm canh khuya gác trọ với những bóng dáng mờ ảo ngút tận con đường nhận thức cuộc sống.

Vĩnh vi lãng đãng phong trần khách
Nhật viễn gia hương vạn lý trình”[1]

Con đường truy nguyên thực tại như áng tơ trời băng qua sa mạc trường ca hoang vu, cô tịch. Người lữ khách bước đi trên mặt đất phất phơ tà áo, vươn tay níu bầu trời, uống giọt sương mờ ảo, thở hiu hắt từng ngụm khói đá xanh; lòng lắng lòng, từ trong sâu thẳm tiếng nói vọng về như bản hòa tấu dịu êm, du dương.

Từ đó, bóng dáng con người đích thực hiển hiện rõ ràng như thị giữa chiêm bao mộng mị. Con đường đã được khai quang thông suốt Tài – Mệnh – Nghiệp, giải tỏa khúc mắc đã bao năm giày vò tâm tư con người, đày đọa thể xác bé bỏng mong manh. Cánh cửa thời gian mở rộng đưa chúng ta về bầu trời phong kiến, mở ra trước mắt hiện cảnh phong kiến điêu tàn, mục nát. Chính xã hội ấy mà tinh anh  là con người với nhiều tâm hành ganh tỵ, ghen ghét đã đày đọa, đun đẩy kiếp người hồng nhan đến vực thẳm linh hồn. Tất cả chỉ vì sự tồn tại trong dòng chuyển dịch. Như một cỗ xe sắp rã mục, nó cố gồng mình để dìm kiếp người tài hoa vào tuyệt lộ thâm u, rùng rợn.

Chế độ phong kiến trên đà tan rã, nên không dung nỗi tài hoa. Không gian lồng lộng mà tài hoa không có điểm tựa để tồn tại. Tất cả đều do tâm hồn rộng lớn mà nhỏ bé của con người. Nên Đỗ Thập Nương làm kỹ nữ, Thúy Kiều bán mình, Giả Bảo Ngọc phải uất hận; những người ấy, tình của họ đầy mức thông thường hay cái tệ của lễ nghi cổ hủ, đành phải “khối tình ôm xuống tuyền đài chưa tan”. Xã hội ấy không dung nổi hồng nhan; “hồng nhan bạc mệnh” đâu phải là một thành kiến để thở than, bốn chữ này là bản tổng kết kinh nghiệm ngàn năm sự đời dưới chế độ phong kiến. Do đó, một sợi dây vô hình vương dài ràng buộc những người “đồng hội đồng thuyền”, “nhất phiến tài tình thiên cổ luỵ ” lại với nhau. Họ cảm thông nỗi niềm đau của nhau:

“Son phấn có thần chôn vẫn hận
Văn chương không lụy đốt còn vương”[2]

Chế độ phong kiến rất sợ cái tài. Những người có tài không những bị vua bắt phục vụ cho mình mà đôi khi còn bị hại. Cho nên, đến đời nhà Nguyễn có lệ thi không lấy Trạng Nguyên, nghĩa là đến một lúc nào đó cái tài không còn được thừa nhận. Ở đây, chúng ta chưa nói đến cái tài của Kiều, chỉ nói cái tình của Kiều, sức sống say mê sâu sắc ấy cũng đã là điều phiền toái cho trật tự xã hội. Với sức sống này, xã hội phong kiến như ở trên cái thế quân bình không vững vì có sẵn một lực công phá nội tại. Một điều mà đạo đức phong kiến không thể chịu được là Kiều dám yêu trước khi được uy quyền xã hội cho phép. Mê Kiều như Chu Mạnh Trinh, phải thốt lên: “Chỉ vì một tội mối manh chưa có, thề thốt đã nhiều, trăng gió mắc vào, phồn hoa dính mãi”[3]Tài mà không được gặp gỡ, tình mà không được hả hê. Trong trời đất đã có người tài tình tuyệt thế tất thế nào cũng có sự khám kha bất bình. “Thiên địa gian hữu tuyệt thế tài tình, diệc bất năng vô khảm kha  bất bình sự[4].

Trong Truyện Kiều mâu thuẫn giữa Tài và Mệnh tập trung ở nàng Kiều – con người và số phận. Tài là tài năng và nhan sắc; là tình, là đức hạnh; là những gì tốt đẹp nhất của con người. Có thể nói, Tài là bản chất của con người luôn vươn đến Chân – Thiện – Mỹ. Tài là một giá trị thực tại; do đó nó thể hiện trong con người Kiều như một nội dung hình tượng. Và cũng có thể, tài ở đây chưa hẳn là tài năng, nghĩa là chỉ một khả năng đột xuất phi thường của con người có thể chế ngự được thiên nhiên hay tác động đến những  quy luật của xã hội. Nếu quan niệm như thế, chỉ có Từ Hải mới xứng đáng được gọi là có tài. Như vậy cái chết của Từ Hải mới là tài mệnh tương đố. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ Từ Hải mà chỉ Thúy Kiều. Nếu quan niệm tài là tài hoa, tài tình; “Nghìn thu bạc mệnh một đời tài hoa” thì Kim trọng cũng là người có tài,”nền phú hậu bậc tài danh”. Thế mà Kim Trọng không bị quy luật tài mệnh tương đố chi phối. Có tài chưa chắc khổ, nhờ tài làm thơ mà Kiều được tha bổng hay  được cho ra ở Quan Âm Các.

Số mệnh là một thực thể siêu hình, nó không có tồn tại và hiệu lực thực tại. “Thực thể siêu hình trong địa hạt tư duy tư biện, địa hạt của những khái niệm trừu tượng và những sự trừu tượng hóa có thể chứng minh là bản chất là sự hiển nhiên nhưng trong thế giới thực tại không thể chỉ ra[5]. Trong thế giới nghệ  thuật Truyện Kiều, sự tồn tại và hiệu lực của Số mệnh không hiển hiện được, ngay sự hiển hiện của Đạm Tiên cũng không ngoài “trận gió cuốn cờ” và “những dấu giày in rêu”. Sự chi phối của Số mệnh không thể không thể hiện một cách gián tiếp thông qua những nguyên nhân trực tiếp và thực tại. Trong thế giới hình tượng Truyện Kiều, lần lượt xuất hiện bọn quan lại, bọn buôn người,… những thủ phạm trực tiếp gây ra số kiếp long đong của nàng Kiều. Hiện thân của họ là những đồi phong bại tục. Đây là thực tại của những thiết chế trong xã hội phong kiến suy tàn. Nên mâu thuẫn giữa chế độ phong kiến và bản chất con người là ý nghĩa đích thực, là bản chất của thế giới hiện tượng được mô tả bằng nội dung Truyện Kiều. Nhưng tác giả lại nhận thức với một ý nghĩa siêu hình: bản chất của nó là mâu thuẫn giữa Tài và Mệnh. Tài mệnh tương đố là niềm tin sâu sắc của tác giả.

Thi sĩ đã suy nghĩ bằng chính trái tim của mình, ông giải thích cuộc đời bằng số mệnh, đồng thời đứng về phía con người để oán hờn số mệnh. Nhưng cuộc sống thì cụ thể, phong phú, đa dạng, còn chủ nghĩa thiên định có tính cách siêu hình, nên có những lúc ông tỏ ra không nhất quán. Với Nguyễn Du triết luận là suy nghĩ về cuộc đời, cảm khái về cuộc đời, về những điều trông thấy mà đau đớn lòng. Do gắn bó với con người, với cuộc sống qua kinh nghiệm những năm lang thang và gian truân của mình. Ông đặc biệt thương xót người có tài có tình. Ấy là những nhà thơ nổi tiếng trác tuyệt mà cuộc đời trải qua muôn vàn bất hạnh; là những bậc anh hùng hào kiệt mà thất thế; là những người phụ nữ sắc đẹp khuynh thành mà phải  chịu số phận buồn thảm. Trong tư tưởng ông, những lực lượng tàn phá cái hay cái đẹp ông khái quát thành số mệnh. Khi đi thẳng vào vấn đề, Nguyễn Du trở nên lúng túng:

“Bạt sơn giang đỉnh nại thiên hà?
Túc hận du du kí thiển sa”[6]
(Sức mạnh dời núi, trời giúp chăng?
Nghìn đời mối hận vùi cát mỏng)

hay số mệnh vùi dập Tiểu Thanh:

“Cổ kim hận sự thiên nan vấn
Phong vận kì oan ngã tự cư”
(Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi
Cái án phong lưu khách tự mang)[7]

Thật vậy, mâu thuẫn này nó lồng qua tác phẩm, đôi khi não lòng giữa tình cảm của một nghệ sĩ với trái tim rung động sâu sắc cùng thực tế của kiếp người phù du, của xã hội khắc nghiệt; và sự suy nghĩ vô hiệu của một nhà triết học siêu hình bế tắc với các khái niệm về số kiếp. Thật ra trong những lúc phẫn chí nhất muốn chống trả vòng  vây số mệnh, ông cơ hồ cũng có tìm ra một chút ánh sáng: “Cùng thời tự khả biến phong vân”. Sự mâu thuẫn ở đây là mâu thuẫn trong con người, trong tư tưởng của ông chứ không phải giữa Tài và Mệnh. Đó là mâu thuẫn giữa thực tế và lý tưởng. Lý tưởng con người muốn vươn tới một cảnh sống cao đẹp, giữa những ngày mà chế độ kinh tế, chính trị và trình độ ý thức vẫn ràng buộc cặp cánh tư tưởng lại trong những điều kiện sống gắt gao. Đây là bi kịch trong tâm hồn ông và cũng là sự tố cáo sâu sắc của ông đối với xã hội đương thời. Số mệnh ấy chẳng qua là quy luật thép của xã hội; nó không những giáng lên đầu Kiều  mà còn bắt Kiều phải thừa nhận nó. Đó mới là điều nghiệt ngã. Do đó chân lý chỉ chợt lóe lên rồi vụt tắt. Ông uất ức kêu trời  rồi chịu, bởi không có lối thoát:

“Cập thức bại vong phi chiến tội
Không lao trí lực dữ thiên tranh”

Theo thuyết Thiên mệnh của Nho giáo, người ta ở đời, giàu nghèo sướng khổ là do số phận định trước bởi trời.”Tử sinh hữu mệnh, phú quý tại thiên”. Người ta bằng kinh nghiệm ở đời mà suy ra huyền bí của càn khôn và từ ấy, người ta cho tài mệnh không hợp nhau: “Chữ tài, chữ mệnh khéo là ghét nhau” hay như Lý Thương Ẩn nói : “Cổ lai tài mệnh lưỡng tương phương”. Người ta không chịu tìm nguyên nhân trong xã hội mà lại theo khuynh hướng duy tâm thần bí mà suy ra rằng, sở dĩ có điều bất bình là bởi đạo trời vốn ghét cái trọn vẹn: “Tạo vật đố toàn, tạo hóa kị doanh”. Cho nên cái lẽ “bỉ sắc tư phong” người ta gọi là luật thừa trừ trong kiếp người. Không những Thúy Kiều, Đạm Tiên mà cả Tây Thi, Điêu Thuyền, Chiêu quân… đều như vậy. “Hồng nhan tự thuở xưa – Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu”. Các tao nhân mặc khách cảm giai nhân khổ sở mà ai oán như vậy. Không những ở phương Đông mà ở phương Tây, xưa nay các thi hào vẫn khóc “má hồng phận bạc” như: Héléne, Héloise,… Suy rộng ra, cái luật thừa trừ ấy, trong tư tưởng Tây phương có chỗ tương tự. Luật ấy rất giống luật cân nhắc mà người Hi Lạp xưa tiêu biểu bằng thần thoại Némésis.

Thi sĩ Tố Như không phải là nhà Nho thuần túy. Cái tính đa cảm, những kinh nghiệm đau đớn đã khai thông mở lối cho ông. Ông thỏa mãn với luật thừa trừ, nhưng nó chỉ mới là điều nhận xét tuồng như đúng mà chưa cắt nghĩa về lý do. Ông không chịu con người không có trách nhiệm về sự cân nhắc họa phúc của trời. Ông bèn lấy chữ Nghiệp của đạo Phật mà phát huy chữ Mệnh của Nho Giáo.

Thúy Kiều tuy là món đồ chơi của vận mệnh nhưng là món đồ chơi có ý thức, chứ không bù nhìn. Nàng đã dự cảm được vận mệnh không ra gì từ lúc còn nhỏ; rồi khi bán mình, nàng thấy sự hi sinh và nghĩa vụ của nàng phù hợp với số mệnh. Có lúc nàng chống lại số mệnh, “xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều” nhưng không thành đành phải ẩn nhẫn: “Kiếp này nợ trả chưa xong – Làm chi thêm một nợ chồng kiếp sau” hay “Kiếp xưa đã vụng đường tu – Kiếp này chẳng kẻo đền bù mới xuôi”. Nàng lấy Thúc Sinh để thoát nợ lửa nồng, rứa mà bị hành hạ ở nhà Hoạn Thư, nàng đành ”túc trái tiền oan” mà chịu khổ. Rồi trốn Quan âm Các lại rơi vào lầu xanh, thực là, “chạy chẳng khỏi trời”, thôi “phải liều má phấn cho rồi ngày xanh”. Có khi nàng nghiến răng quyền rủa: “Chém cha cái số má đào – Gỡ ra rồi lại buộc vào như không!”. Cuộc đời nàng như trò đùa dai của số mệnh, trước sau chỉ “…nhắm mắt đưa chân – Mà xem con tạo xoay vần đến đâu?”…

Do bế tắc trong tư tưởng Tài – Mệnh, ông đành mở một lối thoát bằng cách dùng đến chữ Nghiệp trong Phật giáo:

“Đã mang lấy nghiệp vào thân
Thì đừng trách lẫn trời gần đất xa”

Sở dĩ Thúy Kiều có số phận mong manh như vậy; cái bỉ sắc tư phong chỉ là nhận xét bên ngoài; thực ra cái tiềm ẩn bên trong chính là những kết quả, những nghiệp duyên mà nàng đã vun tạo. Nàng đã có cái nghiệp tiềm ẩn bên trong nên từ lời nói cho đến tiếng đàn đều mang âm hưởng khổ đau. Người có cái nghiệp như vậy nên rất đa tình đa cảm; hai cái đó là cái mối vô hình, sợi dây vô tướng để đi vào con đường mà mình đã họa nên:

“Nàng rằng: Nhân quả dở dang
Đã toan trốn nợ đoạn tràng được sao.
Số còn nặng nợ má đào,
Người đà muốn chết, trời nào có cho?”

Dưới ánh sáng nhân – duyên học, các quan điểm Thiên mệnh, Định mệnh đều bị ngã quỵ, không thể tồn tại mà xưng hùng xưng bá để đày đọa kiếp người. “Bắt phong trần phải phong trần. Cho thanh cao mới được phần thanh cao.” Con người trôi lăn là do bởi chính hành vi thất niệm của mình. Con người có tự do trong việc tạo y báo và chánh báo, nhưng với điều kiện là phải có chánh niệm; còn không thì mãi mãi sẽ loanh quanh luẩn quẩn trong vòng mâu thuẫn đố kị, trôi lăn trong quỹ đạo của vòng tròn nhân quả. Chính thi sĩ Tố Như từ những mâu thuẫn trong nội tâm mà phải lênh đênh, “ở không yên ổn – ngồi không vững vàng”. Rốt cùng, ông phải thốt lên “tu là cội phúc”, tức là chuyển hóa các tâm hành để thăng hoa đời sống của mình. Đó là lối thoát duy nhất trong tư tưởng Tài – Mệnh của Nguyễn Du.

Thanh Tâm [Tập san Nghiên cứu Phật học, số 7, PL.2547]

[1] Trần Thái Tông, bài kệ Tướng Sanh.

[2] Nguyễn Du, Độc tiểu thanh kí, Vũ Tam Tập dịch trong Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nxb. Văn Học, Hà Nội, 1978.

[3] Chu Mạnh Trinh, Thanh tâm tài nhân thi tập tự.

[4] Tiên Phong Mộng Liên Đường Chủ Nhân, Tự, Sách đã dẫn.

[5] Hoàng Ngọc Hiến, Triết lý Truyện Kiều, Tạp chí Văn học, số 2, 1966.

[6] Nguyễn Du, bài Sở Bá Vương mộ, Nguyễn Huệ Chi dịch.

[7] Nguyễn Du, Độc Tiểu Thanh Kí, Sách đã dẫn.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Bài viết cùng chuyên mục:

Nhìn lại nguyên nhân suy tàn của Phật giáo tại Ấn Độ
Lịch sử, Nghiên cứu

Phật giáo trải qua trên một ngàn năm ở Ấn Độ, tuy nhiên vẫn còn chưa biết đến điều gì đưa đến sự biến mất của Phật giáo khỏi vùng đất đã khai sinh ra đạo Phật. Nhiều học giả đã nỗ lực nghiên cứu bí ẩn này. Tuy nhiên, vì không đủ chứng cứ...

Quan điểm Hồ Chí Minh về vai trò của Phật giáo
Nghiên cứu, Văn hóa - Xã hội

Dẫn nhập: Hồ Chí Minh là lãnh tụ cách mạng vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Tư tưởng của Người là kho tàng tri thức vô giá, có ý nghĩa sâu sắc về lý luận và thực tiễn trên nhiều lĩnh vực, trong đó có tôn giáo. Hồ Chí Minh đã dành nhiều sự quan...

Đại giới đàn: Những vấn đề cần quan tâm, điều chỉnh
Điểm nhìn

Truyền giới và thọ giới là hoạt động đặc thù của Tăng-già trong ngành Tăng sự Giáo hội, được xem là Phật sự quan trọng. Hàng năm, nhiều tỉnh thành được Giáo hội cho phép tổ chức Đại giới đàn, tuy nhiên, việc tổ chức sự kiện đặc thù này vẫn chưa được thống nhất...

Thiền phái Tào Động ở miền Bắc Việt Nam với những đóng góp cho đạo pháp và dân tộc
Lịch sử, Nghiên cứu, Văn hóa - Xã hội

Sau khi đệ nhất Tổ sư Thiền phái Tào Động – ngài Thủy Nguyệt truyền vào xứ Đàng Ngoài, đệ nhị Tổ Tông Diễn đã khai hóa triều đình, giải trừ ách nạn của Phật giáo thời nhà Lê ở xứ Đàng Ngoài. Đến nay, thiền phái Tào Động dần thâm nhập vào mọi tầng...

Giáo hội Phật giáo Việt Nam sẽ tinh gọn bộ máy
Điểm nhìn

Chiều 21/3, thượng tọa Thích Đức Thiện, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, thông báo dự kiến ngày 31/3 sẽ ban hành văn bản hướng dẫn tinh gọn bộ máy hành chính và xây dựng mô hình Giáo hội địa phương hai cấp. Theo...

Hình tượng Quán Thế Âm trong các truyền thống Phật giáo
Nghiên cứu, Văn hóa - Xã hội

Thế giới ngày càng phát triển, những giá trị vật chất có thể làm con người quên đi bản chất thật sự của hạnh phúc. Nhưng nếu biết quay về với tâm từ bi, học theo hạnh nguyện của Quán Thế Âm, chúng ta sẽ tìm được sự bình yên trong cuộc sống. Mở đầu: Quán...

Tâm linh qua góc nhìn Khoa học và Tôn giáo
Nghiên cứu, Văn hóa - Xã hội

“Tâm linh” vốn là cụm từ mà đối với nhiều người vẫn xem đó là những gì thuộc về thế giới siêu linh, huyền bí, thuộc về cõi âm. Với không ít người, khi nói đến “tâm linh”, người ta cho rằng đó là một cụm từ mang tính đe dọa và đáng sợ. Thế...

Chúa Nguyễn và sự hình thành hệ thống chùa làng ở Đàng Trong (1558-1777)
Lịch sử, Nghiên cứu, Văn hóa - Xã hội

Chùa làng ngoài việc đáp ứng nhu cầu thực hành Phật giáo của người dân, còn có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giúp người dân tái cố kết cộng đồng, ổn định cuộc sống trong quá trình khai hoang, lập làng lập ấp. Tóm tắt Trong quá trình Nam tiến, Phật giáo theo chân...

Vai trò của Phật giáo trong việc xây dựng quốc gia Đại Việt thời Lý – Trần
Lịch sử, Nghiên cứu, Văn hóa - Xã hội

Mở đầu Từ buổi đầu du nhập Phật giáo đã sớm hòa mình vào trong tín ngưỡng văn hóa bản địa và bén rễ sâu vào trong đời sống xã hội, gắn bó với dân tộc. Phật giáo với tư cách là một tôn giáo, đã không ngừng đóng góp trong sự nghiệp dựng nước và giữ...

Nghiên cứu về ngày, tháng Thành đạo của Ðức Phật
Lịch sử, Nghiên cứu

Theo Phật giáo Nam truyền, ngày Đản sanh, Thành đạo và nhập Niết-bàn của Đức Phật đều diễn ra vào ngày trăng tròn tháng Vesākha; với Phật giáo Bắc truyền, ngày Thành đạo diễn ra vào ngày mùng 8 tháng 12 âm lịch. Trong ngày hôm nay, thời gian tổ chức sự kiện Đức Phật...

Những nhân vật tiêu biểu trong quá trình hình thành Tổng hội Phật giáo Việt Nam
Lịch sử, Nghiên cứu

Quá trình hình thành Tổng Hội Phật giáo Việt Nam năm 1951 đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, khi Phật giáo chính thức có một tổ chức đại diện thống nhất trên toàn quốc. Bối cảnh lịch sử – xã hội và thực trạng Phật giáo Việt Nam đầu...

Ý nghĩa các tên gọi của ngôi chùa dưới góc độ ngôn ngữ văn hóa
Nghiên cứu, Văn hóa - Xã hội

Ngôi chùa từ lâu đã hiện hữu và gắn bó thiết thân trong mỗi chúng ta. Khắp nơi nơi trên cả nước, đâu đâu cũng có chùa, lớn có, nhỏ có, kim có, cổ có, tất cả đã trở thành một phần không thể tách rời trong cộng đồng làng xã Việt Nam. Về tên...

Khảo cứu lịch sử chất liệu ghi chép lưu trữ kinh Phật
Lịch sử, Nghiên cứu

Thời điểm xưa nhất tài liệu ghi chép, Vua A Dục (Asoka, 268-233 trước Dương lịch) vào lần tập kết kinh điển lần thứ 3 đã cho cán mỏng đồng đỏ thành lá để ghi chép và lưu trữ kinh Phật. Tổng lược các lần tập kết kinh điển theo góc nhìn các nhà nghiên...

Văn bia Phật giáo Quảng Nam – Đà Nẵng thời Nguyễn (1802-1945): Một số vấn đề về hình thức
Nghiên cứu, Văn hóa - Xã hội

Theo đà tiến bước của lưu dân Đại Việt về phương Nam, Phật giáo cũng từng bước xuất hiện và cắm rễ sâu trên vùng đất Quảng Nam – Đà Nẵng, trở thành một yếu tố văn hóa không thể tách rời trong bức tranh đa sắc của tiểu vùng văn hóa xứ Quảng. Trong...

Các Giống Dân Cổ Ấn Trước Thời Đức Phật
Lịch sử, Nghiên cứu

Theo các tài liệu cho biết rằng ngày xưa, ở Ấn Độ chỉ có một giống dân tên Negro da đen, tóc quăn, nhỏ con và mặt choắt. Họ không biết canh tác trồng tỉa gì cả. Hiện nay, giống dân này còn sót lại ở một số vùng cao tại Ấn Độ và châu...

Khởi Nguồn Giáo Hội Phật Giáo Nam Tông Kinh Việt Nam
Lịch sử, Nghiên cứu

Trong thập niên 1920 và 1930, ở Việt Nam có nhiều phong trào hồi sinh và canh tân các hoạt động Phật Giáo. Song song với sự chỉnh đốn các tổ chức Phật Giáo Phát Triển còn có nhiều chú tâm đến các hoạt động của truyền thống Nguyên Thủy, về hành thiền và các...

Ads Blocker Image Powered by Code Help Pro

Đã phát hiện trình chặn quảng cáo!!!

Chúng tôi đã phát hiện thấy bạn đang sử dụng tiện ích mở rộng để chặn quảng cáo. Vui lòng hỗ trợ chúng tôi bằng cách vô hiệu hóa các trình chặn quảng cáo này.