Theo Thọ Mai Gia Lễ, có năm hạng tang phục tùy theo quan hệ huyết thống và nghĩa tình, phân biệt thân sơ. Đó là:

1. ĐẠI TANG (TRẢM THÔI VÀ TỀ THÔI)
Đại tang gồm hai loại:
- Quần áo sổ gấu gọi là Trảm thôi: Con để tang cha, mẹ.
- Quần áo không sổ gấu gọi là Tề thôi: Con để tang mẹ; vợ để tang chồng khi cha chưa mất.
Thời hạn
Ba năm, về sau giảm còn hai năm ba tháng (sau lễ giỗ hết, thêm ba tháng dư ai là hai mươi bảy tháng).
Tang phục
- Áo xô, khăn xô thắt có hai dải sau lưng (gọi là khăn ngang).
- Nếu cha mẹ đều đã mất thì hai dải khăn bằng nhau.
- Nếu còn cha hoặc còn mẹ thì hai dải khăn dài ngắn lệch nhau.
Con trai chịu tang
- Tang cha chống gậy tre.
- Tang mẹ chống gậy vông (gậy gỗ).
- Đội mũ rơm quấn đầu.
- Thắt lưng bằng dây chuối, dây đay hoặc dây gai.
Thời nay, nhiều nơi đã bãi bỏ những tang phục này. Ở các thành phố, nhiều gia đình sử dụng băng tang màu đen theo tang chế châu Âu.
Những người phải để Đại tang
- Con trai, con gái, con dâu đều để tang cha mẹ (kể cả đích mẫu, kế mẫu, dưỡng mẫu, từ mẫu và dưỡng phụ).
- Vợ để tang chồng.
- Nếu con trưởng mất trước cha mẹ thì cháu đích tôn để tang ông bà nội theo Đại tang để thay cha.
2. CƠ NIÊN
Thời hạn: Một năm.
Từ Cơ niên trở xuống đều dùng khăn tròn bằng vải trắng, không chống gậy.
Những người phải để Cơ niên
- Cháu nội để tang ông bà nội.
- Con riêng của vợ để tang bố dượng nếu bố dượng có công nuôi dưỡng và ở cùng; nếu không ở cùng thì không phải để tang. Trước có ở cùng, sau thôi thì để tang ba tháng.
- Con để tang mẹ đẻ ra mình nhưng bị cha ruồng rẫy (xuất mẫu), hoặc cha chết, mẹ đi lấy chồng khác (giá mẫu).
- Chồng để tang vợ cả có chống gậy; nếu cha mẹ còn sống thì không chống gậy.
- Cháu để tang bác trai, bác gái, chú, thím và cô ruột.
- Anh chị em ruột để tang nhau (cùng cha khác mẹ cũng để tang một năm; cùng mẹ khác cha thì để tang năm tháng).
- Cha mẹ để tang con trai, con gái và con dâu cả, kể cả con đã đi làm con nuôi nhà người.
- Chú, bác, thím, cô ruột để tang cháu (con của anh em ruột).
- Ông bà nội để tang cháu trưởng (cháu đích tôn).
- Đích mẫu, kế mẫu, từ mẫu để tang các con chồng; thứ mẫu để tang con mình và con chồng như nhau (đều là một năm). Để tang con dâu cả cũng một năm.
- Con dâu để tang dì ghẻ của chồng (tức vợ lẽ của cha chồng).
- Con rể để tang cha mẹ vợ (dù vợ đã mất và đã lấy vợ khác cũng vậy).
- Nàng hầu để tang cha mẹ chồng, vợ cả của chồng và các con chồng cũng như con mình; các họ hàng bàng thân bên nhà chồng thì không phải để tang.

3. ĐẠI CÔNG
Thời hạn: Chín tháng.
Những người phải để Đại công
- Anh chị em con chú, con bác ruột để tang nhau.
- Cha mẹ để tang con dâu thứ hoặc con gái đã lấy chồng.
- Chú, bác, thím ruột để tang cháu (con gái đã xuất giá, con dâu của anh em ruột).
- Cháu dâu để tang ông bà của chồng; chú, bác, thím, cô ruột của chồng.
- Mẹ để tang con dâu thứ và con gái riêng của chồng.
- Con gái đã xuất giá để tang bác trai, bác gái, chú, thím và cô ruột.
4. TIỂU CÔNG
Thời hạn: Năm tháng.
Những người phải để Tiểu công
- Chắt để tang Cụ (Hoàng tang: chít khăn vàng).
- Cháu để tang anh chị em ruột của ông nội (ông bà bác, ông chú, bà thím, bà cô).
- Con để tang vợ lẽ, nàng hầu của cha (nếu cha giao cho nuôi mình thì để tang ba năm như mẹ đẻ).
- Cháu để tang đường bá thúc phụ mẫu và đường cô (anh chị em con chú, con bác ruột của cha).
- Anh chị em con chú, con bác ruột để tang vợ của nhau.
- Anh chị em chung mẹ khác cha để tang nhau (vợ con của những người ấy thì không phải để tang).
- Chú, bác ruột để tang cháu dâu (con dâu của anh em ruột).
- Ông bà bác, ông chú, bà thím, bà cô để tang cháu (tức cháu nội của anh em ruột).
- Ông bà nội để tang vợ cháu đích tôn hoặc cháu gái đã xuất giá.
- Cháu ngoại để tang ông bà ngoại và cậu ruột, dì ruột (anh chị em ruột của mẹ, kể cả anh chị em ruột của đích mẫu, thứ mẫu, kế mẫu).
- Cháu dâu để tang cô ruột của chồng.
- Chị dâu, em dâu để tang anh chị em ruột của chồng và con của những người đó (tức các cháu gọi bằng bác hoặc bằng thím).
5. TY MA PHỤC
Thời hạn: Ba tháng.
Những người phải để Ty ma phục
- Chít để tang Can (Kỵ) nội (Ngũ đại – Hồng tang: chít khăn đỏ).
- Chắt để tang Cụ nhà bác, nhà chú (tằng tổ bá thúc phụ mẫu và tằng tổ cô, tức anh chị em ruột với Cụ nội).
- Cháu để tang bà cô đã lấy chồng (chị em ruột với ông nội).
- Cháu để tang cô bá (chị em con chú, con bác ruột với bố).
- Con để tang bố dượng (nếu trước có ở cùng, sau mới về bên nội).
- Con để tang nàng hầu của cha.
- Con để tang bà vú (người cho bú mớm).
- Cháu để tang tộc bá thúc phụ mẫu (anh em cháu chú, cháu bác với cha).
- Chồng để tang vợ lẽ, nàng hầu.
- Anh chị em họ nội năm đời để tang cho nhau.
- Bố mẹ vợ để tang con rể.
- Ông bà ngoại để tang cháu ngoại và cháu dâu ngoại.
- Ông của chồng để tang cháu dâu.
- Cụ để tang chắt nội.
- Cháu để tang vợ cậu, chồng cô, chồng dì nếu cùng ở một nhà.
- Anh chị em con cô ruột và con dì ruột để tang cho nhau.
- Cậu ruột để tang vợ của cháu trai.
- Cháu dâu để tang các ông bà là anh chị em ruột với ông nội chồng.
- Chắt dâu để tang Cụ nội của chồng.
- Cụ để tang chắt nội trai, gái.
- Ông bà để tang các cháu gái của con nhà chú, nhà bác.
TANG BÊN CHA MẸ NUÔI
- Kỵ bên cha nuôi thì để tang ba tháng; Cụ bên cha nuôi thì năm tháng; ông bà thì một năm.
- Cha mẹ nuôi thì mặc áo bằng gấu hoặc áo sổ gấu, để tang ba năm và có chống gậy.
- Từ ông bà trở lên, nếu mình là người thừa trọng thì cũng để tang ba năm theo áo sổ gấu.
- Ông bà sinh ra mẹ nuôi thì để tang năm tháng; các trường hợp khác đều không có tang.
TANG HỌ NHÀ MÌNH
(Đã làm con nuôi người khác nhưng để tang bên họ của mình)
- Ông bà sinh ra cha thì để tang chín tháng.
- Cha mẹ sinh ra mình thì để tang một năm và có chống gậy.
- Bác trai, bác gái, chú, thím và cô là anh chị em ruột với cha thì đều để tang chín tháng; riêng cô đã xuất giá thì để tang năm tháng.
- Anh chị em ruột để tang chín tháng; chị dâu, em dâu để tang ba tháng; chị em đã xuất giá thì để tang năm tháng.
- Ông bà sinh ra mẹ thì để tang ba tháng.
XÉT TRONG LỄ
Xét trong lễ nói rằng:
Con gái đã xuất giá thì các tang đều có giáng một bậc. Song nếu đi lấy chồng rồi bị chồng ruồng bỏ, hoặc chồng chết mà không có con, sau đó trở về nhà cha mẹ thì được coi như chưa lấy chồng, vì vậy các hạng tang không bị giáng.
Nếu đang để tang cha mẹ được một năm mà bị chồng ruồng bỏ thì phải tiếp tục để tang cha mẹ đủ ba năm.
Nếu đã để tang cha mẹ được một năm và đã trừ phục xong thì không được trở lại để tang ba năm, dù việc chồng ruồng bỏ xảy ra trước đó.
Ngược lại, nếu bị chồng ruồng bỏ trước, sau mới để tang cha mẹ nhưng chưa đủ một năm mà chồng lại gọi về thì cũng không nên trở về ngay, mà nên ở lại để trọn thời gian ba năm tang chế.
TRƯỜNG PHỤC
Trường phục có ba loại:
- Trưởng trường: Từ 16 đến 19 tuổi.
- Trung trường: Từ 12 đến 15 tuổi.
- Hạ trường: Từ 8 đến 11 tuổi.
(Đều lấy thứ tự giáng một bậc.)
Ví dụ:
Trai đã lấy vợ, gái đã lấy chồng thì dù tuổi còn nhỏ cũng không được gọi là “trường”.
Nếu theo quy định vốn phải để tang một năm thì:
- Trưởng trường giáng xuống còn chín tháng.
- Trung trường giáng xuống còn bảy tháng.
- Hạ trường giáng xuống còn năm tháng.
Nếu vốn phải để tang chín tháng thì:
- Trưởng trường giáng xuống còn bảy tháng.
- Trung trường giáng xuống còn năm tháng.
- Hạ trường giáng xuống còn ba tháng.
Các trường hợp khác đều suy theo nguyên tắc ấy.
KẾT
Ngũ phục là hệ thống tang chế truyền thống được ghi chép trong Thọ Mai Gia Lễ, xây dựng trên nguyên tắc phân biệt thân – sơ theo huyết thống và nghĩa tình trong gia tộc. Mỗi hạng tang quy định rõ thời hạn để tang, tang phục và đối tượng áp dụng, phản ánh quan niệm đạo hiếu, tôn ti trật tự và lễ nghi của xã hội truyền thống Việt Nam.
Ngày nay, phần lớn các quy định về Ngũ phục không còn được áp dụng đầy đủ như trước. Tuy nhiên, việc tìm hiểu Ngũ phục vẫn có ý nghĩa trong nghiên cứu văn hóa, gia lễ cổ truyền và giúp hiểu rõ hơn những phong tục tang lễ của cha ông.

