Huế là một trong những trung tâm Phật giáo của Việt Nam. Văn hóa Phật giáo đã tạo nên một sức ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống văn hóa, tinh thần lẫn vật chất của người Huế. Chùa Huế, từ khi còn là những ngôi thảo am nhỏ do các vị thiền sư sáng lập, hoằng pháp độ sanh, thì này đã thành nhưng cổ tự với niên đại sắp xỉ 400 đến 500 năm, không chỉ là nơi tụ tập, thực hành và trải nghiệm nếp sống thiền môn của tăng ni, tín đồ Phật giáo mà còn là nơi chiêm bái, quy ngưỡng tâm linh cùa thập phương bá tánh trong cả nước.

Chùa Huế có nhiều loại hình với tính chất và chức năng đặc thù, bao gồm: quốc tự – quan tự, tổ đình, chùa thuộc phủ đệ, chùa họ tộc, chùa tư, chùa khuôn, chùa làng,…, được kiến tạo với những quy mô và chất liệu, nghệ thuật khác nhau. Tất cả góp phần làm nên chân dung riêng của di sản kiến trúc chùa Huế, bên cạnh những loại hình kiến trúc cung đình và dân gian.

Sự hài hòa của một kiến trúc Huế trong vùng đất được tạo hóa ưu đãi về mặt cảnh quan, là kết quả của sự đồng cảm trong cách thích ứng, sáng tạo, phù hợp với con người, với những trải nghiệm dày dặn trên quê hương mình sống và không gian ngôi chùa cũng không phải là một ngoại lệ. Chính vì vậy, những danh lam xứ Huế đứng trên mặt tư tưởng chủ đạo và những nét cơ bản trong cấu trúc, đã hòa nhập một cách tự nhiên vào tinh thần chung mà trong đó, không gian cung đình Nguyễn, phủ đệ, hay lăng tẩm, miếu mạo lẫn những loaị hình cư trú truyền thống của quý tộc, của dân gian đều không phải ngẫu nhiên gặp nhau trên cùng một ngôn ngữ kiến trúc.

Trong vài thập kỷ trở lại đây, cơn lốc của dòng kiến trúc hiện đại với vô vàn chất liệu quý, phong cách, … đang tác động đến những kiến trúc cổ kính ở xứ Huế. Với thực trạng ấy, có những loại hình kiến trúc, lẽ ra phải ung dung, tự tại và đủ bản lĩnh để giữ lại những giá trị thuần khiết, cũng như bình tĩnh chuyển đổi bóng dán của mình một cách từ tốn, đó chính là những ngôi chùa Huế đặc thù. Tuy nhiên, xem ra những những đối tượng này cũng không cưỡng lại được những hấp lực về mặt tiện ích, những bước cải tiến, phát triển kỹ thuật, phù hợp với nhu cầu, thực hưởng của xã hội.

Trong hàng trăm ngồi chùa ở Huế thì chùa Báo Quốc được xem đậm kiến trúc chùa Huế nhất bởi sự hài hòa cân đối. Với lối kiển trúc chữ “khẩu” (口), kiểu nhà trùng thiềm điệp ốc, nghệ thuật tổ chức hài hòa đỉnh cao của tinh thần Phật giáo toát lên từ cảnh sắc chùa mà các vị tổ sư đã kiến tạo .

Chùa Báo Quốc tọa lạc trên đồi Hàm Long trên đất xưa gọi là làng Thụy Lôi, gần xóm Lịch Đợi, nay thuộc phường Đúc, thành phố Huế. Từ đây nhìn xuống hướng đông là con đường Điện Biên Phủ (con đường dẫn lên đàn Nam Giao), nhìn về hướng Bắc là Ga Huế.

Chùa do Hoà Thượng Giác Phong, người Quảng Đông, Trung Quốc, khai sơn vào cuối thế kỷ 17 dưới đời vua Lê Dụ Tông và đặt tên là Hàm Long Tự. Sau đó Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát ban sắc tứ Báo Quốc Tự vào năm 1747. Hiện vẫn còn tấm biển vàng thếp vàng và những bức liễu từ thời ấy. Thời Tây Sơn chùa bị sử dụng làm công xưởng.

Năm 1808 để báo hiếu mẹ là Hiếu Khương Hoàng Thái Hậu, vua Gia Long trùng tu chùa, xây tam quan và đúc một đại hồng chung nặng 826 cân ta, cao 1,4m, đường kính 1,2m nay vẫn còn. Vua đặt tên là Thiên Thọ Tự, nhưng về sau vì lăng Gia Long cũng gọi là Thiên Thọ lăng nên vua Minh Mạng đổi lại tên như cũ. Vua Minh Mạng trùng tu chùa vào năm 1824 và vua Tự Đức góp phần tôn tạo vào năm 1858. Khu mộ tháp có tháp tổ Giác Phong và và các vị kế thế như Phổ Tịnh, Viên Giác, Diệu Giác.

Năm 1948 An Nam Phật Học Hội dời Sơn Môn Phật Học Đuờng từ chùa Linh Quang đến đây do Hoà Thượng Thích Tịnh Khiết, sau này trở thành Tăng Thống Giáo hội, làm Giám Đốc và Báo Quốc đã trở thành một trung tâm đào tạo tăng tài. Người tiếp nối sự nghiệp giáo dục tăng ni và làm trụ trì chùa Báo Quốc là Hoà Thượng Thích Trí Phủ. Hoà Thượng cũng là người lập ra trường Bồ Đề ở thành nội năm 1952 mà về sau phát triển thành một hệ thống trường Bồ Đề khắp các tỉnh ở miền trung và miền Nam trước năm 1975. Ngày nay chùa Báo Quốc là nơi đặt trường Trung cấp Phật Học Huế. Chùa còn giữ được Hàm Long Sơn Chí, một tác phẩm của Điềm Tịnh cư sĩ bằng chữ Hán ghi lại lịch sử phát triển của Phật Giáo Thuận Hoá.

Qua cổng tam quan cổ kính, đồ sộ, sẽ đi qua một sân rộng, đến sân trong trồng nhiều cây tùng và các cây cảnh khác, có lan can bao bọc. Phía trái là khu tháp Tổ, cổ nhất là tháp Ngài Giác Phong, xây năm 1714, cao 3,30m. Ở tiền điện có 4 trụ đắp rồng nổi, ở thành bậc tam cấp cũng có đôi rồng, hai vách trang trí hoa văn bằng mảnh sành rất công phu.

Tổng thể chùa gồm có: cổng tam quan, Đại hùng bảo điện (chính điện), nhà hậu, nhà bếp, nhà tăng, nhà khách, trường họ, nhà ăn và nhà bếp, hệ thống mộ tháp các vị tổ.

Bố cục chùa đăng đối theo trục chính đạo[1] xuyên suốt từ cổng tam quan đến chính điện và nhà hậu. Bố cục theo kiểu “chữ khẩu kín” được hình thành từ bốn khối: Đại hùng bảo điện, nhà hậu, nhà tăng, nhà khách. Khối chính điện luôn nằm phía trước, nhà hậu nằm đối diện phía sau, hai bên là nhà tăng và nhà khách. Khoảng sân vuông được tạo thành ở giữa bố trí cây cảnh để thư giản. Xét về giá trị, bố cục chữ “khẩu” tạo nên sự cân bằng trong đơn nguyên kiến trúc, sự thuận tiện trong giao thông đi lại, đảm bảo thông thoáng, lấy sáng, giúp bảo quản đồ đạc, quan sát và quản lý đệ tử.

Khu vực Chính điện được xây thành ba gian hai chái, với những nét trang trí rất công phu, các trụ cột, bên vách tường đều có hoa văn bằng mảnh sành hay những họa tiết hình rồng, bên trong khu Chính Điện, là nơi thờ cúng trang nghiêm. Ngoài ra, ở dưới chân đồi của ngôi chùa còn có giếng nước nổi tiếng, gọi là giếng Hàm Long, bởi mạch nước ở giếng phun ra như vòi rồng, vì nước trong, thơm và ngọt, nên được người dân tiến dâng các Chúa.

Các khối phụ được bố trí xung quang theo kiểu phân tán dựa trên công năng và ý đồ sử dụng. Các đường hành lang, các khoảng sân nhỏ kết nối các khối nhà tạo thành một tổ hợp sống động. Hệ thống tháp tổ, tháp mộ được tách biệt về phía bên trái chánh điện.

Nhìn chung, các công trình lớn nhỏ trong chùa tuy trải qua nhiều lần trung tu nhưng vẫn đồng đều và nhất quán về phong cách, màu sắc.

Cổng tam quan được xem là bộ mặt của một ngôi chùa, bởi tam quan là cổng chính của tự viện. Chư Tăng, tín đồ và du khách ra vào tự viện đều phải qua cổng tam quan này. Do vậy cổng tam quan có ảnh hưởng vô cùng quan trọng đến đời sống tâm linh của các hành giả trong chùa và khách thập phương tín thí đến chùa lễ Phật

Tam quan được xem như cửa ải giữa hai thế giới thánh phàm, tịnh nhiễm nhằm thanh lọc và bảo hộ tâm hồn của hành giả mỗi khi ra vào. Bởi vậy, người ta thường gọi cổng tam quan của nhà chùa là cửa Phật, cửa Tam bảo, cửa Thiền, cửa Từ bi, cửa Giải thoát (Tam giải thoát môn)…

Do vậy, trong bố cục kiến trúc tổng thể của một ngôi chùa xưa, chư Tổ thường đặc biệt quan tâm đến hạng mục kiến trúc cổng tam quan. Mỗi chiếc cổng tam quan xưa đều có sự phối hợp chặt chẽ giữa con người, cảnh vật và giáo lý giải thoát của nhà Phật để xây dựng nên nhằm giúp cho người bước vào luôn có cảm giác gần gũi, gạt bỏ ra ngoài những thị phi phiền muộn của thế gian ô trược, dọn lòng thanh tịnh trước khi vào lễ Phật bái tổ.

Kích thước chung mỗi kiến trúc tam quan cổ có chiều cao khoảng 7 đến 10m, chiều ngang khoảng hơn 8m, bề dày khoảng từ 2 đến 3m. Với kích thước như thế cổng tam quan còn có một chức năng tránh mưa nắng cho khách qua đường, đồng thời mỗi khi bước chân qua vòm cổng dày khoảng 2 đến 3m thấp lè tè có cảm giác như cạ ngang đầu làm cho mọi người có dịp cúi xuống để nhìn lại mình.

Cổng tam quan chùa Báo Quốc lại rất đồ sộ và cổ kính được xây bằng gạch có chiều cao 7,01m, chiều ngang 9,895m, chiều dày 2,54m, gồm 3 tầng tượng trưng cho Tam bảo mà không có phần lầu để thờ tượng Hộ Pháp. Tuy nhiên với kích thước cũng như cách trang trí chữ Hán và đường nét cổ kính, chiếc cổng cũng làm cho người ta có cảm giác nhẹ nhàng và thanh thoát khi bước vào.

Với lối kiến trúc đặc trưng của cổng tam quan các ngôi cổ tự ở Huế, ngoài những giá trị nghệ thuật còn là một bài pháp trực quan rất có ý nghĩa để khi hành giả bước chân vào chốn già lam lòng trở nên thư thái, nhẹ nhàng và thanh tịnh.

Chánh điện là tòa nhà chính để thờ Phật, quan trọng nhất đại diện cho ngôi chùa, có quy mô khối tích lớn nhất và tập trung mọi tinh hoa kiến trúc, nghệ thuật trang trí.

Chánh điện chùa Báo Quốc có 3 gian 2 chái, các gian rộng khoảng 3m. Về mặt tổ chức không gian, từ ngoài vào trong có 3 không gian: Không gian tiền đường, không gian chính điện và không gian hậu tổ liên tiếp nhau.

Không gian tiền đường: Là tiền đường nơi phật tử quỳ lạy làm lễ bố trí án gõ mõ. Ở phía trước hai bên chái Đông Tây đặt chuông trống đánh lễ hằng ngày.

Không gian chính điện: Không gian chính thờ Phật. Điện Phật được bài trí tôn nghiêm. Các tượng thờ đều đặt trong khung kính. Án thờ cao nhất ở gian giữa là tượng Phật Tam Thân và hai bộ kinh tạng Đại Thừa. Trước tượng Tam Thân là bảo tháp thờ xá-lợi Phật. Án thờ kế là tượng đức Phật Thích-ca, hai bên là tượng A-nan và Ca-diếp. Án ngoài cùng đặt một bộ kinh Pháp Hoa, hai bên là chuông, mõ. Án hai bên thờ đức Phật Dược Sư và Bồ-tát Quan Âm. Đây là cách thờ tự đã được sửa đổi từ khi Hòa thượng Phước Hậu được phong Tăng cang và trụ trì chùa Báo Quốc vào năm 1939.

Không gian hậu tổ: nơi thờ các vị tổ khai sơn và chủ trì đã khuất. Thường “hậu tổ” cách không gian 2 một bức tường. Bàn thờ tổ nằm ở gian giữa kèm theo long vị, 2 bên là 2 án thờ hương linh, các vị đạo hữu có công đức với chùa. Điểm mới của chùa Huế là coi trọng không gian thờ tổ so với chùa thời kì trước, hình thành kiểu thờ “tiền phật hậu tổ”, nói lên tầm quan trọng của con người trong việc mở mang phật giáo ở Huế.

Về mặt kết cấu của tiền đường và chính điện là cấu trúc “rường” của nhà truyền thống Huế. Bộ khung chính điện vẫn còn giữ lại vật liệu gỗ. Hai bộ vì nóc đỡ hai mái là vì “giao nguyên – trụ đội”[2], một kiểu nóc hay gặp ở cung điện. Chính điện có 4 bộ kèo chính, mỗi bộ có 2 kèo tiền và 3 kèo hậu, nối với nhau theo kiểu kèo chồng.

Vê mặt đứng, bộ mái mỏng kiểu trùng thiềm lợp ngói liệt. Các đường bờ nóc, bờ quyết gắn sành sứ tạo hình trang trí giống cung điện. Đỉnh nóc trang trí lưỡng long chầu Pháp Luân, một motif phổ biến trong các ngôi chùa Huế.

Nhìn chung hệ thống biểu tượng chủ đạo của ngôi chùa ở Huế là ngôn ngữ biểu tượng Phật giáo. Hệ thống ấy được biểu hiện đa dạng qua tranh ảnh, tượng thờ, pháp phục, pháp khí, phù điêu, bích họa,… với chư Phật, Bồ tát, hoa sen, chữ Vạn, bình bát… Mặt khác, các biểu tượng có nguồn gốc Nho giáo, Lão giáo, văn hóa Chăm pa và tín ngưỡng nhân gian Việt Nam tuy đóng vai trò thứ yếu những đã thể hiện tinh thần Phật giáo đại chúng. Các biểu tượng nơi đây thể hiện sự giao thoa giữa văn hóa Chăm pa và văn hóa Phật giáo, văn hóa – mỹ thuật thời nguyễn và văn hóa Phật giáo, văn hóa dân gian và văn hóa Phật giáo, hay cách biểu hiện của mô hình Tam giáo đồng nguyên (Nho, Phật, Lão)… trong các biểu tượng được phối thờ, trang trí.

Giá trị nghệ thuật của hệ thống biểu tượng tại các ngôi chùa ở xứ Huế là sự phá cách trong các chất liệu, đặc biệt là chất liệu sành. Nếu như việc trang trí công trình kiến trúc truyền thống Việt Nam thiên về chất mộc mạc nguyên sơ của vật liệu thì trong trang trí tại các ngôi chùa Huế ngoài những vật liệu quen thuộc như giấy, gỗ sơn son thép vàng, đồng, đá,…. để tạo hình tượng các vị Phật, La hán, chư thiên bằng tranh vẽ và tượng tròn; đá, đồng, gỗ trong việc tạo các pháp khí … thì pháp lam và đặc biệt sành sứ thực sự tạo một diện mạo mới trong cách thể hiện biểu tượng. Đó là phong cách ứng xử trên nền tri thức cũ, sáng tạo nên những tác phẩm đồng loạt trên chất liệu mới phù hợp với điều kiện tự nhiên của vùng đất

Dưới tác động của nhu cầu phát triển chung, phát triển khối tích ngôi chùa đang đối diện với sự biến đổi… Đó còn là một câu chuyện dài với nhiều luồng ý kiến. Tuy nhiên dù trong hoàn cảnh nào, mong rằng cái chất riêng cùa chùa vẫn còn đó, vì chính cái không khí ở chùa Báo Quốc luôn luôn lôi cuốn, mang lại cảm giác an nhiên tĩnh tại cho những ai một lần ghé đến lễ Phật chiêm bái…

THÍCH TÂM THẮNG (Sưu lục)  

CHÚ THÍCH:

[1] Trục chính đạo: trục thẳng xuyên suốt trong bố cục kiến trúc cổ để các khối kiến trúc bố trí đăng đối

[2] Vì giao nguyên – trụ đôi: Bộ vì nóc hay gặp ở cung điện Huế, sử dụng 2 kèo chính giao nhau ở đỉnh, 2 đuôi kèo cắt nhau vượt lên đặt đòn dông. Dưới 2 kèo là trến nhỏ gọi là ấp quả, dưới ấp quả là trụ tiêu và con đội hay con tôm.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

– Thích Hải Ấn, Hà Xuân Liêm (2006), Lịch sử Phật giáo xứ Huế, Nxb. Văn hóa Sài Gòn.

– Trần Đại Vinh, Nguyễn Hữu Thông, Lê Văn Sách (1993), Danh lam xứ Huế. Sài Gòn, Nxb Hội Nhà Văn.

–  Chu Quang Trứ (2010), Kiến trúc chùa với bia đá và chuông đồng, Nxb Lao Động.

– Nguyễn Ngọc Tùng, Nguyễn Thị Minh Xuân (2016), Giáo trình lịch sử kiến trúc Việt Nam, Nxb. Đại học Huế.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Bài viết cùng chuyên mục:

Tứ diệu đế với vấn đề giáo dục đạo đức toàn cầu
Luận, Phật học, Văn hóa

TÓM TẮT Tứ diệu đế hay là bốn chân lý vĩ đại của Phật giáo chính là cốt tủy cơ bản để hợp thành học thuyết nhân sinh cứu đời. Đó là kết quả suy ngẫm và trải nghiệm thông qua thực tiễn cuộc sống của chính Phật tổ và sự tổng kết những suy...

Giải mã Phật viện Đồng Dương nhìn từ cấu trúc của Thai tạng giới mạn-đà-la Mật tông.
Lịch sử, Nghiên cứu, Văn hóa

Phế  tích Đồng Dương (1) là tổ hợp kiến trúc đền-tháp Phật giáo quan trọng nhất của vương quốc Champa, hiện tọa lạc tại xã Bình Định Bắc, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Phế tích đồ sộ này đã được Henri Parmentier và Charles Carpeaux khai quật trong thời gian từ ngày 07-9-1902 đến...

Khám phá chùa Hoa Yên tại núi Yên Tử
Chùa Việt

Chùa Hoa Yên Yên Tử là một trong những địa điểm du lịch tâm linh được nhiều du khách thập phương chọn lựa. Ngôi chùa này có những điểm độc đáo trong thiết kế, lịch sử và sự tích xa xưa. Cùng khám phá vẻ đẹp chùa Hoa Yên Tử qua nội dung bài viết...

Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử và Thiền phái Liễu Quán – Những nét tương đồng
Lịch sử, Nghiên cứu

TÓM TẮT Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử là thiền phái Phật giáo yêu nước, nhập thế, kết hợp chặt chẽ giữa đời và đạo, đạo với đời. Vào thế kỷ XVII-XVIII, hệ tư tưởng của thiền phái Trúc Lâm lại có điều kiện tỏa sáng trong đời sống người dân. Hệ tư tưởng này...

Ngôi cổ tự huyền bí bậc nhất trấn Sơn Nam
Chùa Việt

Hiện nay cả hai chùa Keo đều lưu giữ nhiều di vật quý giá chứa đựng những điều huyền bí gắn liền với cuộc đời Thiền sư Không Lộ. Không chỉ là một danh tích gắn liền với cuộc đời tu Phật của vị thiền sư nổi tiếng Dương Không Lộ, chùa Keo còn là...

Tư tưởng nhập thế của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử trong sự nghiệp đoàn kết, xây dựng và phát triển đất nước
Luận, Nghiên cứu, Văn hóa

Tóm tắt: Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ thế kỉ thứ I trước Công nguyên và đồng hành trong đời sống tinh thần của dân tộc. Tuy nhiên, đến thế kỷ 13 khi xuất hiện Thiền phái Trúc Lâm mà vua Trần Nhân Tông là vị tổ sư khai sáng thì Phật giáo...

Tinh thần nhập thế, hộ quốc an dân và công hạnh các bậc cao tăng trong lịch sử
Nghiên cứu, Văn hóa

Tinh thần nhập thế của Phật giáo đã có từ thời Mâu Tử, nhưng dưới thời Vua Trần, thì được phát triển mạnh mẽ nhất. Đặt nền móng cho tinh thần nhập thế ấy là khi tướng Trần Thủ Độ nói với Vua Trần Thánh Tông: “Tôi dám nói rằng bệ hạ vì sự tự...

Ảnh hưởng của Phật giáo trong văn học chữ Nôm giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX
Lịch sử, Nghiên cứu, Văn hóa

Giai đoạn lịch sử xã hội đầy biến chuyển, phản ảnh đời sống con người văn học chữ Nôm giai đoạn này cũng đã ghi nhận vào mình khá đầy đủ mọi phương diện về đời sống tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng. Đời sống ấy được quy chiếu vào văn thơ...

Tôn Sư trọng Đạo – dưới góc nhìn của đạo Phật
Nghiên cứu, Văn hóa

Nói đến truyền thống Tôn sư trọng đạo là nói đến mối quan hệ tương tức và tương nhập. Đây là mối quan hệ cùng nhau, nếu thiếu hay tách biệt sẽ không tồn tại. Có cả thầy và trò trong mối quan hệ trong nhau, cùng nhau, để hiện hữu, chuyển tải và hóa Đạo...

Tìm hiểu trai đàn Giải oan Bạt độ trong nghi lễ Phật giáo xứ Huế
Nghiên cứu, Văn hóa

Trai đàn Giải oan bạt độ là một pháp phương tiện. Nó nhắc nhở mỗi con người nên tự thân ý thức về những hành nghiệp của mình, đừng để gây ương lụy để rồi thọ khổ quả, đó là ý nghĩa “lấy việc độ tử mà độ sinh” trong Đạo Phật. Dẫn nhập: Nghi lễ...

Ngôi cổ tự chứa nhiều tác phẩm điêu khắc thời Trần
Chùa Việt

Chùa Thái Lạc được xây dựng tại thôn Quang Trung, xã Lạc Hồng, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên. Ngôi chùa hiện lưu trữ nhiều bức chạm gỗ cổ mà các nhà nghiên cứu cho rằng, có niên đại từ thời Trần (1225 – 1400). Mảng chạm tinh xảo thời Trần chùa Thái Lạc. Ảnh:...

Vai trò của Hòa thượng Giác Tiên đối với phong trào chấn hưng Phật giáo ở Trung Kỳ
Lịch sử, Nghiên cứu

Mở đầu Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ rất sớm, với sứ mệnh “đồng hành” cùng dân tộc cũng bắt đầu từ đó. Vì vậy, sự hưng suy của một quốc gia cũng chính là những nốt nhạc “trầm bổng” của đạo Phật. Nó đã được giới thiệu vào thời hoàng kim của...

Lễ Sóc, Vọng trong lịch sử
Lịch sử, Nghiên cứu, Văn hóa

Hàng tháng, mỗi ngày Rằm, mùng Một Âm lịch, người Việt có thói quen thắp hương nhằm thỉnh cầu các vị thần linh, tổ tiên phù hộ cho bình an, hạnh phúc, may mắn… Lịch âm được xây dựng trên cơ sở quan sát chu kỳ, vị trí của Mặt Trăng so với Trái Đất....

Hệ phái Khất sĩ: Quá trình phát triển và những đóng góp
Lịch sử, Nghiên cứu

Tóm tắt Đạo Phật Khất sĩ Việt Nam xuất hiện trong một giai đoạn đặc biệt của đất nước khi bị bảo hộ của Pháp. Xã hội tồn tại hai sắc thái rõ rệt. Nông gia và thành thị. Do tính tương phản của văn hóa và nếp sống đó, một thời gian dài xã hội...

Thiền phái Liễu Quán: Sự truyền thừa và phát triển
Lịch sử, Nghiên cứu

Tóm tắt: Thiền phái Lâm Tế Trung Quốc du nhập vào  Đàng Trong Việt Nam  nửa cuối thế kỷ XVII qua bước chân hoằng hóa của chư Tổ sư người Hán. Kế thừa truyền thống chư Tổ thiền phái Trúc Lâm Việt Nam; Thiền sư Liễu Quán (1667-1742) sau khi đắc pháp với Đại sư Minh...

Tu viện Bát Nhã với phong cảnh hữu tình, thiên nhiên trong lành bao bọc
Chùa Việt

Tu viện Bát Nhã đẹp như chốn thần tiên, xung quanh là đồi chè xanh mướt, rất gần với thác Damb’ri hùng vĩ. Tu viện Bát Nhã là một trong những điểm du lịch tâm linh ấn tượng của tỉnh Lâm Đồng. Không chỉ sở hữu kiến trúc đậm chất Á Đông đầy mê hoặc,...